Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp bảo vệ khu du lịch Cát Bà

Khóa luận tốt nghiệp khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà, nhằm cải thiện chất lượng môi trường, phát triển bền vững.

Trường đại học

Đại học dân lập Hải Phòng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận

2011

53
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH CÁT BÀ

1.1. GIỚI THIỆU VỀ KHU DU LỊCH CÁT BÀ

1.2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.2.1. Đặc điểm địa hình

1.2.2. Điều kiện khí tượng

1.2.3. Đặc điểm thủy văn

1.3. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI

2. CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHU DU LỊCH CÁT BÀ

2.1. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

2.2. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC

2.2.1. Môi trường nước mặt

2.2.2. Môi trường nước ngầm

2.2.3. Môi trường nước biển ven bờ

2.3. HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG ĐẤT

2.4. HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN

2.5. HIỆN TRẠNG HỆ SINH THÁI CÁT BÀ

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

3.1. GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ

3.2. GIẢM THIỂU Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC

3.3. GIẢM THIỂU Ô NHIỄM CHẤT THẢI RẮN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khảo sát môi trường

Khảo sát môi trường là bước đầu tiên trong việc đánh giá hiện trạng môi trường tại khu du lịch Cát Bà. Các chỉ tiêu như chất lượng không khí, nước mặt, nước ngầm và nước biển được thu thập và phân tích. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu đều nằm trong giới hạn cho phép, chứng tỏ môi trường tại Cát Bà chưa bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tuy nhiên, việc theo dõi liên tục là cần thiết để đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái.

1.1. Hiện trạng môi trường không khí

Hiện trạng môi trường không khí tại Cát Bà được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như CO, SO2, NOx, độ rung và độ ồn. Kết quả phân tích từ năm 2010 và 2011 cho thấy các chỉ tiêu này đều thấp hơn quy chuẩn quốc gia. Điều này cho thấy không khí tại khu vực này vẫn trong lành, chưa bị ảnh hưởng bởi các hoạt động du lịch và kinh tế.

1.2. Hiện trạng môi trường nước

Hiện trạng môi trường nước được phân tích qua ba nguồn chính: nước mặt, nước ngầm và nước biển. Kết quả cho thấy các chỉ tiêu như COD, BOD5, NH4+, và các kim loại nặng đều nằm trong giới hạn cho phép. Điều này chứng tỏ nguồn nước tại Cát Bà vẫn đảm bảo chất lượng, chưa bị ô nhiễm nghiêm trọng.

II. Hiện trạng môi trường

Hiện trạng môi trường tại khu du lịch Cát Bà được đánh giá toàn diện thông qua các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội. Địa hình, khí hậu, thủy văn và hệ sinh thái đều được nghiên cứu kỹ lưỡng. Các hoạt động du lịch và kinh tế đã có tác động nhất định đến môi trường, nhưng chưa đến mức nghiêm trọng. Việc quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường cần được chú trọng hơn.

2.1. Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên của Cát Bà bao gồm địa hình, khí hậu và thủy văn. Địa hình chủ yếu là núi đá vôi, khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình từ 25-28°C. Thủy văn phức tạp với chế độ thủy triều và dòng chảy ven bờ. Những yếu tố này tạo nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú, cần được bảo vệ và phát triển bền vững.

2.2. Điều kiện kinh tế xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội tại Cát Bà chủ yếu dựa vào du lịch và nuôi trồng thủy sản. Du lịch đang phát triển mạnh, thu hút hàng trăm nghìn lượt khách mỗi năm. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, cần được đầu tư và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

III. Giải pháp bảo vệ

Giải pháp bảo vệ môi trường tại khu du lịch Cát Bà cần được thực hiện đồng bộ và toàn diện. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước và chất thải rắn cần được áp dụng. Đồng thời, việc quản lý tài nguyên và bảo tồn thiên nhiên cần được chú trọng để đảm bảo sự phát triển bền vững của du lịch sinh thái.

3.1. Giảm thiểu ô nhiễm không khí

Giảm thiểu ô nhiễm không khí cần được thực hiện thông qua việc kiểm soát các nguồn phát thải từ hoạt động du lịch và giao thông. Các biện pháp như sử dụng phương tiện giao thông thân thiện với môi trường, tăng cường trồng cây xanh cần được áp dụng để cải thiện chất lượng không khí.

3.2. Giảm thiểu ô nhiễm nước

Giảm thiểu ô nhiễm nước cần được thực hiện thông qua việc quản lý chặt chẽ các nguồn thải từ hoạt động du lịch và nuôi trồng thủy sản. Các biện pháp như xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường, tăng cường giám sát chất lượng nước cần được áp dụng để bảo vệ nguồn nước.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan về khu du lịch Cát Bà Chương 2. Hiện trạng môi trường khu du lịch Cát Bà Chương 3. Đề xuất giải pháp Kết luận Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 6 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà CHƢƠNG 1.

TỔNG QUAN VỀ KHU DU LỊCH CÁT BÀ 1. GIỚI THIỆU VỀ KHU DU LỊCH CÁT BÀ Cát Bà là một quần đảo thuộc huyện Cát Hải được thảnh lập năm 1977 trên cơ sở sát nhập hai huyện Cát Hải và Cát Bà. Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 366 đảo trong đó lớn nhất là đảo Cát Bà với diện tích khoảng 200 km2 ở phía Nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng.

Quần đảo có tọa độ 106°52′ - 107°07′ kinh độ Đông, 20°42′ - 20°54′ vĩ độ Bắc. Diện tích là 1. Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xanh, hòn Tai Kéo,. Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên đảo trên vịnh Hạ Long.

Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 7 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà cao trung bình 70 m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0 - 331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía Đông Nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh. Trong những năm gần đây, Cát Bà nhanh chóng trở thành một khu du lịch lớn ở miền Bắc.000 lượt du khách trong đó có 40% là khách nước ngoài đến nơi này.

Tính đến tháng 6 năm 2008 số lượng khách thăm quan đến nghỉ mát tại Cát Bà đạt 418.000 lượt trong đó khách quốc tế là 164. Đến cuối năm 2009 Cát Bà đã đón vị khách thứ 1 triệu. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. Đặc điểm địa hình: [1] Cát Bà được tạo chủ yếu bởi các thành phần Dựa vào tài liệu khảo sát của Trung tâm nghiên cứu, thiết kế và ứng dụng công nghệ mới thực hiện vào tháng 7/2002 cho thấy các lớp kiến tạo nên địa chất tại cơ sở bao gồm: Lớp đất lấp lẫn đá 4 x 6 cm nằm ở độ sâu tới -3,8 m.

Lớp sét pha nâu vàng lẫn sạn sỏi nằm ở độ sâu -8,5 m. Lớp đá Cacbonat phong hóa hoàn toàn thành sét lẫn sạn nhỏ, nằm ở độ sâu tới 12,5 m. Lớp sỏi cuội nằm ở độ sâu tới -67 m. Điều kiện khí tƣợng: [1] Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền.

Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm trong không khí gần mặt đất và nguồn nước. Nhiệt độ càng cao thì tác động của các yếu tố gây ô nhiễm môi trường càng mạnh. Nhiệt độ trung bình Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 8 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà khoảng 25 - 28°C. Hàng năm có 4 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20°C (từ tháng 12 đến tháng 3) và 3 tháng nhiệt độ trung bình lớn nhất hoặc bằng 30°C (từ tháng 6 đến tháng 8).

Diễn biến nhiệt độ không khí trong cả năm như sau: Nhiệt độ không khí trung bình (năm 2008): 22,7°C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối: 41,5°C Nhiệt độ tối cao trung bình: 29°C Nhiệt độ tối thấp trung bình: 15,1°C b. Gió: Gió là yếu tố khí tượng cơ bản ảnh hưởng đến sự lan truyền các chất ô nhiễm trong không khí và làm xáo trộn các chất ô nhiễm trong nước. Tốc độ gió càng lớn thì chất ô nhiễm trong không khí lan tỏa càng xa nguồn ô nhiễm và nồng độ chất ô nhiễm càng được pha loãng bởi không khí sạch. Ngược lại, khi tốc độ gió càng nhỏ hoặc không có gió thì nồng độ của các chất ô nhiễm trong không khí xung quanh nguồn thải lớn.

Hướng gió thay đổi sẽ làm cho nồng độ của các chất ô nhiễm cũng biến đổi theo. Hướng gió trong một năm tại Hải Phòng biến đổi và thể hiện theo mùa của hoàn lưu. Tháng 1, 2 và 12: gió Đông và Đông Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối. Tháng 3: gió Đông Bắc giảm, gió Đông chiếm ưu thế.

Tháng 4: gió Đông Bắc giảm, gió Đông chiếm ưu thế. Từ tháng 5 đến tháng 8: gió Đông Nam và gió Nam chiếm ưu thế. Tháng 9, 10, 11: gió chuyển dần về hướng Bắc và Đông Bắc. Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình tháng của không khí tại Cát Bà dao động từ 79 ÷ 92%.

Biến trình năm của độ ẩm tương đối có hai cực đại vào tháng 3 (92%) và tháng 8 (88%), và hai cực tiểu vào tháng 11 (79%) và tháng 5, 6 hoặc tháng 7. Tháng 3 có nhiều ngày mưa phùn ẩm ướt nên độ ẩm tương đối tháng này đạt cao nhất. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85%. Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 9 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà d.

Lượng mưa: Lượng mưa hàng năm ở Cát Bà đạt từ 1600 mm đến 1800 mm, được chia ra làm 2 mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với tổng lượng mưa là 80% so với cả năm; mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa là 200 ÷ 550 mm. Một năm, lượng mưa lớn nhất vào các tháng 8 và tháng 9, lượng mưa trung bình xấp xỉ 800 mm và là mùa bão. Tháng 12, 1 và 2 là những tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, lượng mưa trung bình chiếm 20 ÷ 25%. Có khoảng 100 ÷ 150 ngày mưa/năm ở khu vực Cát Bà.

Vào mùa đông, trung bình có 8 ÷ 10 ngày mưa/tháng, mùa hè có số ngày mưa là 13 ÷ 15 ngày/tháng. Đặc điểm thủy văn: a. Thuỷ triều và mực nước: [2] Chế độ thủy triều Cát Bà mang đặc điểm chung của thủy triều Vịnh Bắc Bộ, thuộc loại nhật triều đều biên độ cực đại gần 4 m nhưng thường chậm pha hơn ở Hòn Dấu từ 20 - 30 phút do ảnh hưởng điều kiện địa hình khu vực. Thủy triều khu vực mang tính nhật triều đều điển hình với hầu hết số ngày trong tháng là: trong một ngày đêm có 1 lần nước lớn và một lần nước dòng.

Mỗi tháng cứ 2 kỳ nước cường, mỗi kỳ 11 - 13 ngày, biên độ dao động 2,6 - 3,6 m; xen kẽ là 2 kỳ nước kém, mỗi kỳ 3 - 4 ngày có biên độ 0,5 – 1 m. Trong năm, biên độ triều lớn vào các tháng 6, 7 và 11, 12; biên độ triều nhỏ vào các tháng 3, 4 và 8, 9. Sóng: Khu vực Cát Bà, sóng thường xuất hiện và phát triển ở các hướng Đông Bắc, Đông và Đông Nam. Sóng hướng Đông Bắc độ cao trung bình 1,0 - 1,5 m chiếm tần suất 30% chủ yếu xuất hiện vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau.

Sóng hướng Đông Nam chiếm tần suất 25% chủ yếu phát triển ở độ cao 0,5 - 1,0 m thường gặp vào mùa hè từ tháng 5 - 8. Sóng hướng Nam thường xuất hiện từ tháng 6 - 8, độ cao lớn nhất có thể đạt tới 2,8 m. Sóng hướng Đông thường xuất hiện vào thời kỳ chuyển tiếp giữa hai mùa gió có tần suất lớn nhưng độ cao nhỏ. Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 10 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà Khu vực Lạch Huyện: Theo số liệu quan trắc tại khu vực này của TEDI từ ngày 12/7/2005 đến 15/8/2006 cho thấy: Mùa khô vùng biển thuộc khu vực này không chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc bởi có quần đảo Cát Bà che chắn, từ tháng X năm trước đến tháng IV năm sau độ cao sóng có nghĩa tại khu vực là thấp (H1/3 < 1,25 m) và chủ yếu có hướng Đông Nam, riêng tháng III và tháng IV sóng có hướng phân tán.

Mùa mưa: độ cao sóng có nghĩa tại khu vực có lúc lên đến trên 2 m, chủ yếu có hướng Đông Nam do chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam là chính. Vào thời gian này độ cao sóng lớn nhất ghi được là 4,44 m chu kỳ 6,4 s theo hướng Nam vào 12 giờ ngày 17/7/2006. Dòng chảy: [2] Chế độ dòng chảy vùng ven biển và đảo Hải Phòng rất phức tạp, thể hiện qua mối quan hệ tương tác giữa thuỷ triều, sóng, gió, dòng chảy sông, địa hình khu vực. Dòng chảy ven bờ trong khu vực là tổng hợp của các dòng chảy triều, dòng chảy sóng ven bờ, dòng chảy gió, dòng chảy sông, trong đó dòng triều là thống trị, quy định tính chất của dòng tổng hợp.

Dòng triều mang tính chất thuận nghịch, elíp triều dẹt, định hướng theo luồng, lạch, cửa sông hoặc song song với đường bờ. Dòng triều mạnh vào các tháng 6, 7, 12, 1 và yếu vào các tháng 3, 4, 8, 9 trong năm. Kết quả phân tích điều hoà các thành phần dòng triều cho thấy, dòng toàn nhật có độ lớn áp đảo, gấp 5 - 10 lần dòng bán nhật và lớn hơn nhiều dòng triều 1/4 ngày. Một số quan trắc gần đây cho thấy, dòng chảy tổng hợp có giá trị vận tốc khá lớn, thường nằm trong khoảng 0,4 - 1,0 m/s.

Hướng chảy thường song song với đường bờ, trừ các khu vực cửa sông hướng dòng chảy thay đổi phụ thuộc vào các luồng lạch chính. Trường dòng chảy ổn định trong mùa đông hướng Tây Nam, tốc độ trung bình 20 – 25 cm/s, trong mùa hè hướng Đông Bắc, tốc độ trung bình 15 – 20 cm/s. Khi triều lên dòng chảy thường có hướng từ Nam lên Lê Thị Tuyết Mai - MT1101 Page 11 Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà Bắc, khi triều xuống dòng chảy có hướng ngược lại. Tốc độ dòng triều lớn nhất khi triều dâng đạt 50 cm/s, tốc độ dòng chảy cực đại khi triều triều rút: 50 – 70 cm/s.

ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI Tổng số dân thị trấn Cát Bà là 9. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,87%, trong đó nam chiếm 4.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Khảo sát hiện trạng môi trường và giải pháp bảo vệ khu du lịch Cát Bà" tập trung phân tích thực trạng môi trường tại khu du lịch nổi tiếng này, đồng thời đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển bền vững. Nội dung bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch và nâng cao nhận thức cộng đồng. Đây là tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và những ai quan tâm đến bảo vệ môi trường du lịch.

Để mở rộng kiến thức về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động khai thác cát lòng sông hồng thuộc địa phận tỉnh hưng yên. Nếu quan tâm đến giải pháp quản lý chất thải, hãy đọc Luận văn nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận 7 tphcm. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tài nguyên nước đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu bđkh và phát triển kinh tế xã hội đến sự thiếu hụt nước cấp hồ chứa quan sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội cũng cung cấp góc nhìn sâu sắc về tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước.