Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quần đảo Cát Bà thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng, là quần thể gồm 366 đảo lớn nhỏ nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long. Với cảnh quan đặc trưng kết hợp giữa rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, hệ thống hang động, vịnh biển và rạn san hô, Cát Bà được xác định là một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của miền duyên hải Bắc Bộ và cả nước. Ngày 29/10/2004, quần đảo Cát Bà đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Sự phát triển nhanh chóng của các hoạt động kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch và nuôi trồng, khai thác thủy hải sản đã tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường tự nhiên của đảo. Theo số liệu thống kê được tác giả nêu trong văn bản, lượng khách du lịch đến Cát Bà tăng trưởng nhanh: tính đến tháng 6 năm 2008 đã đạt 418.000 lượt (trong đó khách quốc tế chiếm 164.000 lượt, tương đương gần 40%) và đến cuối năm 2009 địa phương đã đón vị khách thứ 1 triệu. Mật độ dân cư cục bộ tăng cao vào mùa cao điểm (thường xuyên có khoảng 40.000 người tập trung trên địa bàn), cùng sự gia tăng của hơn 110 đến 120 khách sạn, nhà nghỉ xây dựng tự phát, hàng nghìn lượt tàu thuyền và trên 500 nhà bè với hơn 8.000 ô lồng nuôi thủy sản đã làm phát sinh lượng lớn chất thải rắn, nước thải sinh hoạt và dầu mỡ. Thực trạng này đe dọa trực tiếp đến chất lượng môi trường không khí, môi trường nước biển ven bờ và hệ sinh thái rạn san hô quý giá.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp ngành Kỹ thuật Môi trường của tác giả Lê Thị Tuyết Mai (Trường Đại học Dân lập Hải Phòng, năm 2011) thực hiện đề tài "Khảo sát hiện trạng môi trường và đề xuất giải pháp cho khu du lịch Cát Bà" nhằm giải quyết các nhiệm vụ sau:

  1. Tổng quan các điều kiện tự nhiên (địa hình, địa chất, khí tượng, thủy văn) và điều kiện kinh tế - xã hội tại khu du lịch Cát Bà.
  2. Thu thập, tổng hợp số liệu khảo sát và phân tích hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường: không khí xung quanh, nước mặt, nước ngầm, nước biển ven bờ, môi trường đất, hiện trạng quản lý chất thải rắn và diễn biến đa dạng sinh học các hệ sinh thái đặc trưng.
  3. So sánh các chỉ tiêu quan trắc thực tế với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  4. Đề xuất hệ thống các giải pháp quy hoạch, kỹ thuật công nghệ, cơ chế chính sách, quản lý và truyền thông nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường sinh thái phục vụ phát triển du lịch bền vững.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các thông số chất lượng môi trường vật lý (không khí, nước, đất), dòng thải rắn sinh hoạt - thủy sản và hiện trạng hệ sinh thái biển đảo Cát Bà. Phạm vi không gian tập trung tại khu vực thị trấn Cát Bà và các khu vực lân cận thuộc huyện đảo Cát Hải như bãi tắm Cát Cò 1, Cát Cò 2, bến bèo, vịnh Lan Hạ, bãi rác Đồng Trong và Vườn quốc gia Cát Bà. Phạm vi thời gian của dữ liệu khảo sát và quan trắc môi trường được kế thừa, phân tích trong giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2011 (tập trung chủ yếu vào chuỗi số liệu quan trắc hai năm 2010 và 2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng trên cơ sở hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường của Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành, bao gồm:

  • QCVN 05:2009/BTNMT (và văn bản viện dẫn trong bảng biểu QCVN 05:2008/BTNMT): Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh.
  • QCVN 26:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.
  • QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1): Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt (dùng cho mục đích tưới tiêu thủy lợi và các mục đích sử dụng khác có yêu cầu chất lượng nước tương tự).
  • QCVN 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm.
  • QCVN 10:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước biển ven bờ (vùng nuôi trồng thủy sản, bãi tắm và vùng bảo tồn thể thao dưới nước).
  • QCVN 03:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp kỹ thuật môi trường truyền thống:

  • Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo đánh giá tác động môi trường (như Báo cáo ĐTM dự án "Đầu tư xây dựng trung tâm dịch vụ xổ số và giải trí Cát Bà" do Trung tâm nghiên cứu, thiết kế và ứng dụng công nghệ mới khảo sát năm 2002), Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng năm 2008, số liệu đo đạc thủy văn của TEDI (2005 - 2006), chuỗi dữ liệu của Đài khí tượng thủy văn khu vực Đông Bắc, và số liệu nghiên cứu sinh thái san hô từ Đề tài khoa học công nghệ cấp nhà nước KC-09.26/06-10 giai đoạn 2009 - 2010.
  • Phương pháp lấy mẫu và phân tích thực nghiệm: Thu thập kết quả phân tích mẫu môi trường định kỳ tại các vị trí đại diện do các đơn vị chuyên môn thực hiện (Công ty Cổ phần Môi trường Hải Phòng, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Công ty Cổ phần Công nghệ Xanh, Trung tâm Encen).
  • Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu: Tổng hợp kết quả phân tích nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí (CO, SO2, NOx), nước (COD, BOD5, amoni, kim loại nặng, Coliform), đất (Cd, Pb, As, Hg, dầu mỡ) và độ ồn, độ rung đối chiếu trực tiếp với các ngưỡng giới hạn tối đa cho phép theo các QCVN tương ứng.
  • Phương pháp khảo sát rạn san hô bằng dây mặt cắt điểm: Dẫn dụng số liệu đánh giá độ phủ nền đáy, thành phần loài san hô cứng, cá rạn và sinh vật đáy dựa trên kết quả khảo sát chuyên sâu của đề tài KC-09.26/06-10.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về khu du lịch Cát Bà

Chương này trình bày chi tiết các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:

  • Vị trí địa lý và hành chính: Quần đảo Cát Bà có tọa độ địa lý 106°52′ - 107°07′ kinh độ Đông, 20°42′ - 20°54′ vĩ độ Bắc; gồm 366 đảo, đảo lớn nhất là đảo Cát Bà có diện tích khoảng 200 km2. Về mặt hành chính, khu vực nghiên cứu gồm thị trấn Cát Bà (nằm ở phía Đông Nam) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Độ cao trung bình của đảo khoảng 70 m so với mực nước biển (biến thiên từ 0 m đến 331 m).
  • Đặc điểm địa chất, địa hình: Theo tài liệu khảo sát địa chất năm 2002, cấu trúc địa tầng khu vực cơ sở gồm: lớp đất lấp lẫn đá kích thước 4 x 6 cm ở độ sâu tới -3,8 m; lớp sét pha nâu vàng lẫn sạn sỏi ở độ sâu -8,5 m; lớp đá cacbonat phong hóa hoàn toàn thành sét lẫn sạn nhỏ sâu đến -12,5 m; và lớp sỏi cuội nằm ở độ sâu tới -67 m.
  • Khí tượng: Khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất đại dương. Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 25 - 28°C (riêng năm 2008 ghi nhận nhiệt độ trung bình 22,7°C; nhiệt độ tối cao tuyệt đối 41,5°C; nhiệt độ tối thấp trung bình 15,1°C). Chế độ gió phân hóa rõ rệt: gió Đông Bắc và Đông thịnh hành từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau; gió Đông Nam và Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 8. Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85% (biến động từ 79% đến 92%). Lượng mưa trung bình năm từ 1.600 mm đến 1.800 mm, trong đó mùa mưa (tháng 5 đến tháng 10) chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm.
  • Thủy văn: Chế độ thủy triều thuộc loại nhật triều đều điển hình của vịnh Bắc Bộ với 1 lần nước lớn và 1 lần nước ròng mỗi ngày, biên độ cực đại đạt gần 4 m (chậm pha hơn trạm Hòn Dấu từ 20 đến 30 phút). Sóng hướng Đông Bắc mùa đông có độ cao trung bình 1,0 - 1,5 m (tần suất 30%); sóng mùa hè hướng Đông Nam phổ biến 0,5 - 1,0 m (tần suất 25%), sóng hướng Nam có thể đạt tới 2,8 m. Dữ liệu quan trắc của TEDI tại luồng Lạch Huyện năm 2006 ghi nhận độ cao sóng cực đại lên tới 4,44 m (chu kỳ 6,4 s) vào ngày 17/7/2006. Tốc độ dòng triều tổng hợp nằm trong khoảng 0,4 - 1,0 m/s; cực đại khi triều rút đạt 50 - 70 cm/s.
  • Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số thị trấn Cát Bà có hơn 9.000 người, trong đó nam giới là 4.476 người; tỷ lệ gia tăng tự nhiên 0,87%; mật độ dân số 4.992 người/km2; 100% lao động có việc làm. Ngành nghề chính là khai thác - nuôi trồng thủy sản và dịch vụ du lịch. Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn thị trấn đạt 53,6 ha với sản lượng khai thác và nuôi trồng hộ cá thể hàng nghìn tấn mỗi năm.

Chương 2: Hiện trạng môi trường khu du lịch Cát Bà

Tác giả hệ thống hóa dữ liệu quan trắc thực tế để đánh giá chất lượng từng thành phần môi trường:

  • Môi trường không khí: Dữ liệu quan trắc trong hai năm 2010 (tại Cổng Công ty xổ số và Khách sạn Rồng Biển) và 2011 (tại Chân núi tháp Kì Đài và đường vào bãi tắm Cát Cò 1) cho thấy chất lượng không khí xung quanh rất tốt. Nồng độ CO dao động 1.034 - 1.128 mg/m3 (giới hạn QCVN 05 là 30.000 mg/m3); SO2 dao động 37 - 42 mg/m3 (giới hạn 350 mg/m3); NOx dao động 21 - 25 mg/m3 (giới hạn 200 mg/m3); độ rung từ 0 - 0,5 cm/s2 (giới hạn 5,5 cm/s2); độ ồn dao động 48,4 - 71 dB (giới hạn QCVN 26 là 75 dB). Các thông số đều nằm trong ngưỡng an toàn.
  • Môi trường nước:
    • Nước mặt: Kết quả quan trắc mẫu ngày 10/3/2011 và 15/4/2011 cho thấy COD đạt 21 - 24 mg/l (chuẩn B1 là 30 mg/l); BOD5 đạt 11,7 - 12,7 mg/l (chuẩn 15 mg/l); NH4+ đạt 0,32 - 0,45 mg/l (chuẩn 0,5 mg/l); hàm lượng các kim loại nặng (Zn, As, Cd, Hg, Pb) đều rất thấp; Coliform từ 900 - 1.100 MPN/100ml (dưới ngưỡng 7.500 MPN/100ml). Nguồn nước mặt chưa có biểu hiện ô nhiễm.
    • Nước ngầm: Mẫu phân tích ngày 10/3/2010 tại giếng khoan cạnh Khách sạn Rồng Biển cho thấy pH đạt 7,39; COD là 3 mg/l (chuẩn 4 mg/l); độ cứng 137 mg/l (chuẩn 500 mg/l); sắt (Fe) là 2,31 mg/l (chuẩn 5 mg/l); chì (Pb) là 0,008 mg/l (chuẩn 0,01 mg/l); thủy ngân và asen đều thấp hơn quy chuẩn QCVN 09:2008/BTNMT.
    • Nước biển ven bờ: Khảo sát tại Bãi tắm Cát Cò 1 (tháng 4/2010), Cát Cò 2 (tháng 3/2011) và vị trí cách phao số 0 khoảng 6 km về phía Đông Nam (tháng 6/2011). Các chỉ tiêu TSS (15,9 - 20,6 mg/l), amoni (0,045 - 0,2 mg/l), flo (0,03 - 0,9 mg/l), Coliform (178 - 230 MPN/100ml), dầu mỡ khoáng (0,06 - 0,08 mg/l), cùng các ion kim loại Cu, Pb, Zn, Fe đều nằm trong giới hạn QCVN 10:2008/BTNMT. Độ mặn nước tầng mặt mùa khô đạt 34‰ tại Cát Bà; mùa mưa giảm xuống dưới 28‰. Độ pH dao động 7,88 - 8,0; độ trong trung bình 96 - 120 cm; độ đục mùa khô từ 3,28 đến 8,75 NTU.
  • Môi trường đất: Số liệu phân tích các mẫu đất tại Khu 1, Khu 2 và Cảng cá (Khu 3) trong năm 2010 và 2011 ghi nhận: hàm lượng Cd (0,08 - 0,19 mg/kg so với chuẩn 2 mg/kg); Pb (8,77 - 16,72 mg/kg so với chuẩn 70 mg/kg); As (0,12 - 0,52 mg/kg so với chuẩn 12 mg/kg); Hg từ 0,005 - 0,015 mg/kg; dầu mỡ từ 16,91 - 38,25 mg/kg. Đất chưa bị nhiễm độc kim loại nặng do khu vực không phát triển công nghiệp sản xuất.
  • Chất thải rắn và công tác quản lý: Dân số huyện Cát Hải gần 30.000 người nhưng lượng tập trung thực tế thường xuyên lên đến 40.000 người, tạo ra lượng rác sinh hoạt khoảng 80.000 kg/ngày đêm (80 tấn/ngày). Thành phần rác gồm 10 nhóm chính (chất hữu cơ, giấy/carton, plastic, thủy tinh, cao su, vải vụn, phi kim loại, kim loại, đất cát sỏi, chất thải nguy hại). Năng lực thu gom và xử lý của Công ty Công trình công cộng và dịch vụ đô thị Cát Hải đạt 50 tấn/ngày; rác được chôn lấp và phun thuốc khử trùng định kỳ 3 ngày/lần tại bãi rác Đồng Trong (cách thị trấn 8 km). Hoạt động xả thải rác nilon từ tàu cá và thức ăn nuôi cá dư thừa từ các bè nuôi lồng đang tạo sức ép rất lớn đến môi trường biển.
  • Hiện trạng hệ sinh thái Cát Bà: Vườn quốc gia Cát Bà có tổng diện tích 15.200 ha (9.800 ha rừng núi và 5.400 ha mặt nước biển), trong đó vùng bảo vệ nghiêm ngặt là 800 ha, vùng phục hồi sinh thái là 14.000 ha. Đa dạng sinh vật trên cạn gồm 745 loài thực vật (350 loài làm thuốc; có các loài quý hiếm như kim giao, chò đãi, lát hoa, lim xẹt) và 282 loài động vật (có loài voọc đầu trắng đặc hữu nguy cấp). Tài nguyên sinh vật biển gồm 186 loài thực vật phù du, 43 loài rong biển, 147 loài san hô, 44 loài giun nhiều tơ, 120 loài nhuyễn thể, 195 loài cá. Khu dự trữ sinh quyển có vùng lõi rộng 7.500 ha. Riêng hệ sinh thái rạn san hô (theo nghiên cứu năm 2009 - 2010 của đề tài KC-09.26/06-10) ghi nhận 102 loài san hô cứng thuộc 32 giống, 11 họ; trong đó 3 họ chiếm 58,8% (Faviidae, Acroporidae, Poritidae). San hô khối và phủ chiếm trên 80%, san hô cành chỉ chiếm gần 10%. Độ phủ san hô sống dao động từ 24,0% đến 44,0%, không còn rạn tốt (>50%), chân rạn và mặt bằng san hô chết bị bùn bao phủ; rong biển suy giảm tới 84,3% (từ 178 loài trước năm 1993 xuống còn 23 loài năm 2009 - 2010) và xuất hiện địch hại ốc Drupella spp ăn san hô với mật độ hàng chục con/m2.

Chương 3: Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường khu du lịch Cát Bà

Tác giả đề xuất các giải pháp theo từng nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí: Điều tiết lưu lượng phương tiện cơ giới hoạt động trên đảo trong mùa du lịch cao điểm nhằm giảm thiểu ô nhiễm cục bộ tại khu vực chợ và đường ra bãi tắm; khuyến khích người dân và du khách sử dụng phương tiện công cộng hoặc phương tiện không phát thải (xe đạp).
  • Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước: Khắc phục tình trạng ô nhiễm hữu cơ và váng dầu từ hơn 500 nhà bè, 8.000 ô lồng nuôi thủy sản và tàu thuyền hoạt động tại vịnh Cát Bà, Bến Bèo, Lan Hạ. Tác giả kiến nghị tập trung vào 6 nhóm vấn đề:
    1. Quy hoạch: Dừng mở rộng phát triển đô thị trong thị trấn Cát Bà do vụng Cát Bà đã quá tải; không tiếp tục phát triển nuôi trồng thủy sản lồng bè trong vụng Cát Bà và vịnh Bến Bèo mà quy hoạch di chuyển ra các thủy vực vịnh Lan Hạ, Cạp Gù; định hướng chuyển đổi từ nuôi cá sang nuôi nhuyễn thể không cần dùng thức ăn.
    2. Công nghệ: Đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung; thiết lập mạng lưới quan trắc môi trường thường xuyên; xây dựng cơ sở dữ liệu môi trường - kinh tế - xã hội cho toàn đảo; lập phương án ứng phó sự cố tràn dầu và hóa chất.
    3. Thể chế chính sách: Hoàn thiện quy chế quản lý bảo vệ môi trường đặc thù cho đảo Cát Bà và Khu dự trữ sinh quyển; ban hành quy chuẩn kiểm soát công nghệ xử lý nước thải tại các cơ sở lưu trú; bắt buộc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường khi xây dựng cảng biển.
    4. Tổ chức quản lý: Tăng cường đào tạo chuyên môn cho cán bộ quản lý môi trường huyện; siết chặt kiểm tra, giám sát, chấm dứt tình trạng nuôi trồng thủy sản tự phát.
    5. Đầu tư: Bố trí ngân sách thỏa đáng cho các công trình hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường.
    6. Tuyên truyền: Vận động ngư dân không xả nước la-canh, dầu máy và rác thải trực tiếp xuống vịnh biển.
  • Giảm thiểu ô nhiễm chất thải rắn: Duy trì và mở rộng phong trào "nhặt rác bỏ vào thùng"; lắp đặt thêm các thùng rác chuyên dụng tại các bãi tắm Cát Cò 1, 2, 3 và cầu cảng; bổ sung biển báo hướng dẫn và hệ thống nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn; ban hành chế tài xử phạt nghiêm khắc các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ Môi trường đối với các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ ven biển; xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng bền vững.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã hệ thống hóa được bộ dữ liệu toàn diện về hiện trạng môi trường khu du lịch Cát Bà qua các số liệu đo đạc thực nghiệm và thống kê chuyên ngành:

Thành phần môi trường Thông số quan trắc tiêu biểu Giá trị thực tế đo đạc (2010 - 2011) Ngưỡng quy chuẩn (QCVN tương ứng) Đánh giá hiện trạng
Không khí xung quanh CO
SO2
NOx
Tiếng ồn
1.034 - 1.128 mg/m3
37 - 42 mg/m3
21 - 25 mg/m3
48,4 - 71,0 dB
30.000 mg/m3 (QCVN 05)
350 mg/m3 (QCVN 05)
200 mg/m3 (QCVN 05)
75 dB (QCVN 26)
Đạt chuẩn, chất lượng không khí còn trong lành, chưa bị ô nhiễm diện rộng.
Nước mặt COD
BOD5
NH4+
Coliform
21 - 24 mg/l
11,7 - 12,7 mg/l
0,32 - 0,45 mg/l
900 - 1.100 MPN/100ml
30 mg/l (QCVN 08 - B1)
15 mg/l (QCVN 08 - B1)
0,5 mg/l (QCVN 08 - B1)
7.500 MPN/100ml
Đạt quy chuẩn nước mặt cột B1 dùng cho tưới tiêu, chưa có dấu hiệu suy thoái.
Nước ngầm pH
COD
Độ cứng
Fe
7,39
3,0 mg/l
137 mg/l
2,31 mg/l
5,5 - 8,5 (QCVN 09)
4,0 mg/l (QCVN 09)
500 mg/l (QCVN 09)
5,0 mg/l (QCVN 09)
Đạt tiêu chuẩn, hàm lượng kim loại nặng và chất hữu cơ thấp.
Nước biển ven bờ TSS
Amoni
Dầu mỡ khoáng
Coliform
15,9 - 20,6 mg/l
0,045 - 0,20 mg/l
0,06 - 0,08 mg/l
178 - 230 MPN/100ml
Không quy định
0,5 mg/l (QCVN 10)
0,2 mg/l (QCVN 10)
1.000 MPN/100ml
Đạt quy chuẩn nước biển ven bờ dùng cho du lịch và thể thao dưới nước.
Môi trường đất Cadimi (Cd)
Chì (Pb)
Asen (As)
0,08 - 0,19 mg/kg
8,77 - 16,72 mg/kg
0,12 - 0,52 mg/kg
2 mg/kg (QCVN 03)
70 mg/kg (QCVN 03)
12 mg/kg (QCVN 03)
Đất sạch, chưa bị ô nhiễm kim loại nặng từ nguồn nhân tạo.
Chất thải rắn & Sinh thái Lượng rác thải
Năng lực xử lý
Độ phủ san hô sống
Suy giảm rong biển
80.000 kg/ngày đêm
50.000 kg/ngày (50 tấn/ngày)
24,0 - 44,0%
Giảm 84,3% (còn 23 loài)
Quá tải 30 tấn/ngày
Bãi rác Đồng Trong (cách 8 km)
Không còn rạn tốt (>50%)
Trước 1993 có 178 loài
Tồn tại áp lực rác thải lớn và suy thoái hệ sinh thái biển ven bờ.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc chỉ rõ sự mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng du lịch - dịch vụ và năng lực hạ tầng kỹ thuật môi trường tại địa phương (đặc biệt là công suất xử lý rác thải chỉ đạt 50 tấn/ngày so với mức phát sinh 80 tấn/ngày khi đông khách). Đồng thời, tác giả đã cảnh báo kịp thời nguy cơ suy thoái rạn san hô do bùn lắng và hoạt động nuôi cá lồng bè, từ đó đề xuất được khung 6 giải pháp tổng thể gắn với quy hoạch không gian biển và bảo tồn Khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số điểm hạn chế được xác định dựa trên phạm vi và nội dung văn bản:

  • Dữ liệu quan trắc môi trường không khí, nước và đất được tổng hợp chủ yếu từ các đợt khảo sát đơn lẻ theo thời điểm (tháng 3, 4, 6 trong các năm 2010 và 2011) với số lượng điểm đo hạn chế, chưa hình thành chuỗi dữ liệu quan trắc liên tục đa thời gian để đánh giá chính xác biến động theo mùa du lịch cao điểm (tháng 6 đến tháng 8) và mùa thấp điểm.
  • Các phân tích về tải lượng chất thải rắn chủ yếu dựa trên số liệu ước tính gián tiếp từ quy mô dân số và lượng khách du lịch lưu trú, chưa tiến hành cân đo thực nghiệm chi tiết từng nguồn phát sinh rác thải từ nhà hàng, khách sạn và các bè cá.
  • Đề tài tập trung vào việc mô tả hiện trạng và đề xuất giải pháp chính sách, chưa đi sâu vào tính toán thiết kế kỹ thuật chi tiết cho các công trình xử lý nước thải tập trung hoặc bãi chôn lấp hợp vệ sinh trên đảo.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Thiết lập hệ thống quan trắc tự động định kỳ đối với chất lượng nước vịnh Lan Hạ, Bến Bèo và nước biển các bãi tắm.
  • Ứng dụng các mô hình toán học (như mô hình thủy lực và lan truyền chất) để dự báo phạm vi khuếch tán ô nhiễm dầu tràn và chất hữu cơ từ lồng bè.
  • Nghiên cứu mô hình phục hồi san hô và giải pháp kỹ thuật nuôi trồng thủy sản thân thiện môi trường thích ứng với vùng biển đảo Cát Bà.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học các ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Sinh thái học biển và Quản trị Du lịch sinh thái khi nghiên cứu đề tài về đánh giá hiện trạng môi trường biển đảo hoặc quản lý chất thải khu du lịch.
  • Các cán bộ quản lý môi trường tại các huyện đảo, ban quản lý khu bảo tồn biển và vườn quốc gia trong việc xây dựng kế hoạch phân vùng không gian bảo tồn và kiểm soát hoạt động nuôi trồng thủy sản ven bờ.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là dữ liệu định lượng về đặc trưng thành phần loài san hô cứng, độ phủ san hô và biến động quần xã sinh vật đáy (thu thập từ đề tài KC-09.26/06-10) tại Chương 2, cùng khung 6 nhóm giải pháp quản lý - quy hoạch tích hợp tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Chất lượng môi trường không khí tại khu du lịch Cát Bà theo số liệu quan trắc năm 2010 - 2011 có bị ô nhiễm không?
Không. Dữ liệu quan trắc tại các vị trí giáp đường, khách sạn Rồng Biển, tháp Kì Đài và đường vào bãi tắm Cát Cò 1 cho thấy toàn bộ các thông số CO (1.034 - 1.128 mg/m3), SO2 (37 - 42 mg/m3), NOx (21 - 25 mg/m3) đều thấp hơn rất nhiều lần so với ngưỡng quy định của QCVN 05:2009/BTNMT; độ ồn (48,4 - 71 dB) và độ rung (0 - 0,5 cm/s2) đều đạt tiêu chuẩn an toàn.

2. Lượng chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại Cát Bà là bao nhiêu và địa phương xử lý bằng hình thức nào?
Khi lượng người tập trung trên đảo đạt mức 40.000 người (bao gồm dân địa phương và du khách), lượng rác thải phát sinh ước tính khoảng 80.000 kg/ngày đêm (80 tấn/ngày). Hiện tại Công ty Công trình công cộng và Dịch vụ đô thị Cát Hải có khả năng thu gom, vận chuyển và xử lý khoảng 50 tấn/ngày. Rác sinh hoạt được tập trung đem chôn lấp và phun thuốc định kỳ 3 ngày/lần tại bãi rác Đồng Trong, cách trung tâm thị trấn 8 km.

3. Khóa luận ghi nhận hiện trạng hệ sinh thái rạn san hô vùng biển Cát Bà - Hạ Long suy thoái ở mức độ nào?
Theo kết quả điều tra của đề tài KC-09.26/06-10 được tác giả dẫn dụng, san hô bị thu hẹp diện tích nghiêm trọng, các rạn phía trong đã chết hoàn toàn hoặc còn sót lại không đáng kể. Khu vực chỉ còn các rạn có độ phủ trung bình đến nghèo nàn (từ 24,0% đến 44,0%), không còn rạn đạt loại tốt (độ phủ trên 50%). Tỷ lệ đá san hô chết rất cao do bị bùn bồi lấp; san hô cành suy giảm mạnh chỉ còn chiếm gần 10%, trong khi san hô khối và phủ chiếm trên 80%. Rong biển giảm 84,3% số loài so với trước năm 1993 và xuất hiện mật độ cao loài ốc Drupella spp ăn hại san hô.

4. Khóa luận đề xuất các biện pháp quy hoạch cụ thể nào đối với vùng biển nuôi trồng thủy sản và đô thị Cát Bà?
Tác giả đề xuất: không tiếp tục phát triển mở rộng đô thị trong thị trấn Cát Bà do vụng Cát Bà đã quá tải; đồng thời nghiêm cấm và không tiếp tục phát triển nuôi trồng thủy sản lồng bè trong vụng Cát Bà và khu vực Bến Bèo, quy hoạch di dời các cơ sở này sang các thủy vực thông thoáng hơn tại vịnh Lan Hạ, Cạp Gù; kết hợp vận động ngư dân chuyển đổi sang nuôi các loài nhuyễn thể không cần dùng thức ăn nhân tạo.

5. Vườn quốc gia Cát Bà và Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà có quy mô diện tích và phân vùng chức năng như thế nào?
Vườn quốc gia Cát Bà có tổng diện tích 15.200 ha (gồm 9.800 ha rừng núi và 5.400 ha mặt nước biển), phân thành vùng bảo vệ nghiêm ngặt (800 ha) và vùng phục hồi sinh thái (14.000 ha). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà được UNESCO công nhận năm 2004 được chia thành 3 vùng: vùng lõi (diện tích 7.500 ha, bảo vệ nghiêm ngặt không có sự tác động của con người), vùng đệm (phát triển có điều hòa và hạn định) và vùng chuyển tiếp (duy trì các hoạt động kinh tế bình thường gắn với bảo tồn bền vững).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Tuyết Mai đã phản ánh trung thực bức tranh hiện trạng môi trường khu du lịch Cát Bà ở thời điểm khảo sát năm 2010 - 2011, khẳng định môi trường không khí, nước và đất vẫn giữ được chất lượng đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Tuy nhiên, công trình đã chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng về năng lực xử lý chất thải rắn bị quá tải và tình trạng suy thoái đáng báo động của hệ sinh thái rạn san hô do sức ép từ nuôi trồng thủy sản và du lịch tự phát. Hệ thống 6 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu và định hướng quản lý thiết thực nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo tồn bền vững Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà.