Đặt vấn đề Hiện nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì vẫn đề về môi trường đang ngày càng được quan tâm và chú trọng hơn.Vì môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới cuộc sống của con người chúng ta, đây là một vấn đề lớn bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng ở thế hệ hiện tại mà còn để lại những hậu quả nặng nề cho thế hệ tương lai. Ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đang diễn ra hàng ngày, nguyên nhân trực tiếp là do hoạt động của con người tác động vào môi trường tự nhiên, đặc biệt là hoạt động khai khoáng. Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta hiện nay đang tăng trưởng cả về quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, góp phần không nhỏ cho nền kinh tế nước nhà. Tuy vậy, hoạt động khai khoáng đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường khu vực khai thác và chế biến, biểu hiện rõ nét nhất là việc khai thác và sử dụng thiếu hiệu quả nguồn khoáng sản tự nhiên ảnh hưởng xấu tới môi trường đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, làm ảnh hưởng tới nhu cầu sử dụng đất, nước,tiềm ẩn nguy cơ tích tụ hoặc phát tán chất thải ra ngoài môi trường, những hành động này đang gây ô nhiễm nặng nề đến môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị xã hội của mỗi quốc gia.
Dự án khai thác và chế biến khoán sản Núi pháo là một mỏ đa kim loại, được đầu tư bởi công ty Liên doanh khai thác và chế biến khoáng sản núi pháo (NUIPHAOVICA) gồm có 3 công ty thành viên: Công ty Tiberon Minerals Canada (70% vốn ), Công ty khoáng sản Thái Nguyên (15% vốn), và Công ty xuất nhập khẩu và đầu tư Thái Nguyên (15% vốn). Được cấp giấy phép đầu tư số 2377/GP ngày 03 tháng 02 năm 2004, giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 4600864513 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Nguyên h 2 cấp ngày 05 tháng 07 năm 2010, đăng kí thay đổi lần thứ 03, ngày 24 tháng 06 năm 2011. Ngoài những lợi ích mà công tý Núi Pháo đem lại cho nền kinh tế của đất nước nói chung và khu vực dự án nói riêng, thì việc khai thác và chế biến khoáng sản của Núi Pháo cũng tạo ra những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến môi trường đất, nước, không khí .Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng môi trường đất và đề xuất biện pháp giảm thiểu là rất quan trọng và cần thiết, để bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng. Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thâm cùng sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Văn Nông, em tiến hành nghiên cứu đề tài : ” Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước và đề xuất biện pháp giảm thiểu tại công ty TNHH khai thác và chế biến khoáng sản Núi Pháo” 1.2: Mục tiêu của đề tài - Tìm hiểu tình hình khai thác khoáng sản của mỏ Núi Pháo tại xóm 2 – xã Hà Thượng – huyện Đại Từ - tỉnh Thái Nguyên.
-Đánh giá được hiện trạng môi trường đất, môi trường nước để có thể phòng chống, khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường đất. -Đề xuất các biện pháp quản lý cho đơn vị tổ chức khai thác cũng như việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, nhằm giảm thiểu tối đa các tác động dến môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng.3: Ý nghĩa của đề tài 1.1: Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học -Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học vào thực tiễn -Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế cho công tác sau này h 3 1.2: Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài giúp cho sinh viên khi ra trường có kiến thức áp dụng vào thực tiễn - Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiện trạng môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng. - Góp phần xây dựng những giải pháp có hiệu quả về tài nguyên đất tại mỏ Núi Pháo. h 4 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1: Cơ sở khoa học của đề tài 2.1: Một số khái niệm cơ bản A: Khái niệm môi trường: Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2014[5] đưa ra khái niệm về môi trường như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo tác động đối với sự tồn taị và phát triển của con người và vi sinh vật”.
B: Khái niệm về đất Đất là một dạng tài nguyên, vật liệu của con người.Đất có hai nghĩa: đất đai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và thổ nhưỡng là mặt bằng để sản xuất lâm nghiệp. Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, lâu đời, hình thành do kết quả hoạt động của các yếu tố hình thành đất đó là: đá, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Trên quan điểm sinh thái đất không phải là một khối vật chất trơ mà là một hệ thống cân bằng của một tổng thể các kháng thể nghiền vụn, các chất hữu cơ và những sinh vật đất .Thành phần của đất gồm các hạt khoáng chiếm 40%, không khí (20%), nước (35%), các chất mùn hữu cơ (5%). Giá trị tài nguyên đất được do bằng số lượng diện tích (ha) và độ phì (màu mỡ thích hợp cho trồng cây lương thực và công nghiệp).
+Chức năng cơ bản của đất là: -Là môi trường để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát triển. -Là địa bàn để cho các quá trình phân hủy biến đổi các chất khoáng và hữu cơ. h 5 - Là nơi cư trú của động vật và thực vật đất. C: Khái niệm về tài nguyên nước: Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của cuộc sống và môi trường.Không có nước, cuộc sống trên trái đất không thể tồn tại được.Nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững của đất nước.
Nguồn nước là chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng được, bao gồm: sông, suối, ao, hồ, kênh, mương, các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng tuyết, và các dạng tích tụ khác. Nước mặt là nước tồn tại trên đất liền hoặc hải đảo, nước ngầm là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất, nước sinh hoạt là nước có thể dung cho ăn, uống, vệ simh của con người.Nước sạch phải đảm bảo các yêu cầu sau: Nước trong, không màu Không có mùi vị lạ, không có tạp chat Không chứa chất tan có hại Không có mầm mống gây bệnh 2.2: Khái niệm về ô nhiễm môi trường đất và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất. +Ô nhiễm môi trường đất [4] được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất bởi các chất ô nhiễm. +Phân loại đất bị ô nhiễm theo nguồn gốc phát sinh hoặc các tác nhân gây ô nhiễm.
- Dựa theo nguồn gốc phát sinh gồm có: Nguồn tự nhiên: các hoạt động của núi lửa, ngập úng, đất bị mặn do xâm nhập của thủy triều, đất bị vùi dập do cát lấn, cát bay,do phân hủy sinh học của thực vật h 6 Nguồn nhân tạo: ô nhiễm đất do chất thải sinh hoạt, do chất thải công nghiệp, do hoạt động nông nghiệp - Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm gồm có: Ô nhiễm do tác nhân hóa học: bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bố trong đất), thuốc trừ sâu (ĐT, aldrin, photpho hữu cơ…), chất thải công nghiệp và sionh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit) Ô nhiễm do tác nhân sinh học: các loại kí sinh trùng (giun, sán), trực khuẩn ly, thương hàn. Ô nhiễm do tác nhân vật lý; nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân giải của vi sinh vật), chất phóng xạ (Uran, thori, Sr90, I131, Cs1370)…. Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do con người trực tiếp đưa vào đất, đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi ngấm vào đất sẽ lưu lại trong đất rất lâu. Đất không có khả năng tự làm sạch vậy nên con người muốn khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn, tốn nhiều công sức và kinh phí.3: Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước và nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật.
Làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô ảnh hưởng thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất. - Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước các chất thải bẩn, các sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. h 7 - Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
- Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. - Ô nhiễm nước mặn, ô nhiễm nước ngầm và biển. Các xu hướng thay đổi chính của chất lượng nước khi bị ô nhiễm: Giảm lượng oxy hòa tan trong nước, giảm độ trong của nước Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường cùng nước thải, từ khí quyển, từ chất thải rắn. Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên Giảm độ pH của nước ngọt [9] 2.2: Cơ sở pháp lý Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên các văn bản pháp lý đã được ban hành và vẫn còn hiệu lực của hệ thống pháp luật về môi trường ở nước ta.
-Luật bảo vệ môi trường (LBVMT) năm 2014 số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014. - Luật đất đai năm ngày 29 tháng 11 năm 2013.