phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn và tổng quan các công trình nghiên cứu đánh giá cảnh quan huyện Văn Chấn Chƣơng 2: Đặc điểm các yếu tố thành tạo cảnh quan và sự phân hóa cảnh quan huyện Văn Chấn. Chƣơng 3: Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông, lâm nghiệp huyện Văn Chấn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN HUYỆN VĂN CHẤN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Địa lý học đã phát triển qua các giai đoạn: giai đoạn mô tả, giai đoạn phân vùng, giai đoạn nghiên cứu cơ chế đánh giá tổng hợp tiến tới sử dụng hợp lý lãnh thổ.
Xã hội ngày càng phát triển thì chức năng ứng dụng của địa lý cũng ngày càng mở rộng, chức năng ứng dụng của địa lý được hiểu một cách tổng quát là các nghiên cứu cơ bản, lý thuyết của địa lý trở thành cơ sở, nền tảng cho việc khai thác và sử dụng các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế xã hội một cách tốt nhất theo hướng lâu bền và mang lại lợi ích cao nhất cho con người. Tổng hợp các tư liệu cho thấy việc nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ cho sử dụng hợp lý lãnh thổ đã trải qua một thời gian khá dài với nội dung phong phú, với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.1 Trên thế giới Trên quan điểm sử dụng tối ưu hóa môi trường tự nhiên thì cần phải hiểu toàn diện và cơ bản các hệ địa lý. Vì vậy, quan điểm đánh giá nghiên cứu lấy học thuyết về cảnh quan làm cơ sở đánh giá về tổng hợp và quy hoạch lãnh thổ nhằm sử dụng tối ưu các đặc điểm sinh thái của cảnh quan và thiết lập các quan hệ hài hòa giữa sử dụng lãnh thổ, con người và môi trường. Từ giữa thê kỉ XX trường phái này phát triển mạnh trong những năm 60 – 70 ở Liên Xô ( cũ) và Đức, cho rằng cần đánh giá và quy hoạch xây dựng bản đồ cảnh quan.
Ở đây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ quan niệm về cảnh quan được hiểu như là một đơn vị phân loại trong hệ thống phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét đến trong những biến đổi do tác động của con người. Quan niệm kiểu, loại hoặc cảnh quan chỉ để một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý trong đó có những đặc tính chung nhất. Đại biểu của trường phái cảnh quan: Berg L. Ở Tiệp Khắc ( cũ) trong khỏang 25 năm trở lại đây đã soạn thảo phương án quy hoạch cảnh quan sinh thái ( LANDEP) phục vụ cho công tác quy hoạch và thiết kế.
Phương pháp này tập trung vào sử dụng tối ưu các đặc điểm cảnh quan sinh thái trên quan điểm sinh thái học nhằm thiết lập các điều kiện hòa hợp giữa các hoạt động kinh tế của con người và môi trường. Ở Mỹ và các nước Tây Âu: việc đánh giá các điều kiện tự nhiên ứng dụng không quá đi sâu và phụ thuộc vào học thuyết cảnh quan. Quan điểm này được gọi chung là quan điểm không theo học thuyết cảnh quan. Trường phái này có nhiều hướng phát triển và quan điểm cụ thể khác nhau.
Tuy nhiên, điểm quan trọng là đều theo hướng nghiên cứu tổng hợp và xác định đối tượng nghiên cứu của địa lý ứng dụng là các đơn vị. Cũng như các nước Tây Âu và Mỹ, “ở các nước Đông Nam Á, Nam Á và Châu Phi ngày nay thường sử dụng các đơn vị unit. Các đơn vị unit này đồng nghĩa với quan hệ về hệ địa lý, một thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ của một cấp bất kì hay ở các cấp khác nhau” [ 6 ]. Trường phái này chú trọng vào mục đích ứng dụng cụ thể mà xác định các đơn vị địa hệ cơ sở.
Từ tác động của các thành phần nghiên cứu nào được quan tâm nhất mà chọn đơn vị đánh giá. Chính vì vậy trong trường phái này thường thấy xu hướng hoặc chú trọng yếu tố hình thái địa hình ( phát sinh địa mạo), hoặc chú trọng các yếu tố đất ( các quá trình phát sinh thổ nhưỡng) … Thí dụ ở Uc là các đơn vị đất của hệ thống trên cơ sở bốn yếu tố địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, thực vật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Ở Mỹ, yếu tố quan tâm chính là đất và nguy cơ bị xói mòn, thoái hóa đất. Cùng trên quan điểm thực dụng ở Pháp là xu hướng sử dụng các đơn vị địa mạo – thổ nhưỡng, địa mạo – thủy văn như là các đơn vị đánh giá và quy hoạch chính.Jrcard đã công bố các kết quả nghiên cứu liên kết đó trong công trình ứng dụng ( 1978), địa lý sinh thái và quy hoạch môi trường tự nhiên (1979).Calbaussed đã đưa ra bảng phân kiểu cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 trên tờ Grenoble.
Cách ông làm là chồng xếp các bản đồ khí hậu, thủy văn, nham thạch. Ông quan niệm cảnh quan là lãnh thổ thích nghi của thiên nhiên với tác động của con người.Bertrand phân ra ba bậc 1- môi trường tự nhiên, 2- các hệ sinh thái, 3- tác động của con người.C Wieber đưa ra quan điểm nghiên cứu cảnh quan trên ba khía cạnh: cảnh quan là sự biểu hiện của các lực bên ngoài ( tự nhiên và nhân sinh) tác động vào nó; cảnh quan là phần trông thấy được của bề mặt trái đất biểu hiện sụ tổ hợp có quy luật của các yếu tố tự nhiên và nhân sinh.Cảnh quan là bề mặt nhận thức được. Tổng hợp của ba mô hình này sẽ có khái niệm đầy đủ về cảnh quan [ 6 ]. Ở nước ta các công trình về đánh giá điều kiện tự nhiên xuất hiện tương đối muộn, chủ yếu từ những năm 80.
Bùi Thị minh Nguyệt (2004), Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển bền vững huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội. Đặng Thị Thu Thúy (2013), Nghiên cứu ngành sản xuất chè trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan theo quan điểm tiếp cận kinh tế sinh thái, NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
Dương Thị Nguyên Hà (2007), Đánh giá cảnh quan các huyện ven biển tỉnh Quảng Ngãi phục vụ phát triển ngành nông - lâm - ngư nghiệp, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Các công trình này đánh giá trên cơ sở phân chi lãnh thổ ra các cảnh quan hoặc các cáp nhỏ hơn. Đánh giá chung có được bằng cách cộng điểm các đánh giá riêng. Nguyễn Thế Tôn 1994, “đánh giá điều kiện tự nhiên đối với các đối tượng nuôi trồng ở huyện Quỳnh Lưu”, cũng trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các cảnh quan và đánh giá chung.
Dưới góc độ phân vùng địa lý tự nhiên, các nhà địa lý tiến hành phân vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu, từ đó xác định một cách khái quát nhất phương hướng sử dụng lãnh thổ. Trong các công trình này, các đơn vị lãnh thổ tương đối đồng nhất về một số chỉ tiêu nào đó, với những đặc điểm nhất định về tài nguyên, được sử dụng làm đơn vị cơ sở cho quy hoạch vùng và sử dụng tổng hợp lãnh thổ, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một mô hình thống nhất tối ưu về phương pháp đánh giá, kể cả các chỉ tiêu và đơn vị lãnh thổ cở sở để đánh giá môi trường tự nhiên. Các công trình nghiên cứu về huyện Văn Chấn Cho đến nay các công trình nghiên cứu về Huyện Văn Chấn chủ yếu là các công trình nghiên cứu về hiệu quả sản xuất một số loại cây công nghiệp trong huyện như: “đánh giá hiệu quả sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Văn Chấn”; Còn lại chủ yếu là các báo cáo, các hoạt động du lịch về nguồn… do đó việc nghiên đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên đưa vào khai thác và sử dụng có hiệu quả trong quá trình phát triển thì chưa được quan tâm mặc dù huyện có nhiều tiềm năng thế mạnh. Hơn nữa, Văn Chấn là huyện có nhiều lợi thế phát triển cây lúa với cánh đồng Mường Thanh rộng lớn, nhưng cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả cũng như giá trị mà cánh đồng này mang lại.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây về huyện Văn Chấn đều chưa thể hiện được nguồn lực tổng hợp về tài nguyên thiên nhiên cũng như mối quan hệ giữa các hoạt động sử dụng tài nguyên đối với các vấn đề môi trường nảy sinh trong khu vực, chính vì vậy trong thời gian tới cần phải có những điều tra và nghiên cứu sâu hơn về khu vực. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Cơ sở lý luận, thực tiễn nghiên cứu, đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển kinh tế 1. Quan niệm nguồn tài nguyên thiên nhiên Nguồn tài nguyên thiên nhiên là toàn bộ giá trị vật chất sẵn có trong tự nhiên: nguyên liệu, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà con người có thể sử dụng trong sản xuất và đời sống; là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người.
Tất cả những dạng vật chất chưa được con người biết đến, khai thác, sử dụng thì chưa được gọi là tài nguyên thiên nhiên mà chỉ là điều kiện tự nhiên hay môi trường tự nhiên, vì thế tài nguyên thiên nhiên mang tính chất xã hội Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam). Nguồn tài nguyên thiên nhiên luôn được mở rộng đối với sự phát triển của xã hội. Tài nguyên thiên nhiên có thể thu được từ môi trường tự nhiên và được sử dụng trực tiếp như: Không khí, các loài động vật, thực vật tự nhiên, cũng có thể phải qua các quá trình khai thác, chế biến mới có thể sử dụng được như: Khoáng sản, đất đai, động, thực vật, năng lượng mặt trời, nhiệt… tài nguyên thiên nhiên có thể phục hồi được như sinh vật, độ phì đất,.