MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quốc gia và là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là sản phẩm của tự nhiên ban tặng cho con người, là kết quả của quá trình phong hoá hàng triệu năm của trái đất và nó có vai trò rất lớn tới đời sống sinh hoạt của con người cũng như trong quá trình sản xuất của các ngành kinh tế - xã hội. Trong tiềm thức của người dân Việt Nam, đất đai đã trở thành nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất trong quá trình tồn tại và phát triển. Khi quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá càng ngày dịch chuyển theo hướng tích cực đồng thời cũng là lúc quá trình sử dụng cũng như quan hệ đất đai có nhiều biến động.
Do đó, đăng ký biến động sử dụng đất là một trong những nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước, về đất đai nhằm cập nhật thông tin về đất đai để đảm bảo cho hệ thống hồ sơ địa chính luôn phản ánh đúng hiện trạng sử dụng đất, làm cơ sở để Nhà nước phân tích các hiện tượng kinh tế, xã hội phát triển trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai. Đăng kí biến động đất đai là một thủ tục hành chính bắt buộc nhằm thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính đầy đủ, chính xác, cập nhật và cấp giấy chứng nhận cho các chủ sử dụng đất hợp pháp. Đăng ký biến động đất đai nhằm thiết lập mối quan hệ giữa Nhà nước và các chủ sử dụng đất, là cơ sở để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ đất đai theo pháp luật cũng như bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ hợp pháp của người sử dụng đất. Đăng ký biến động đất đai liên quan đến nhiều vấn đề phức tạp giữa về cơ sở pháp lý và quan hệ xã hội, đảm bảo quyền lợi hợp pháp và thiết thực của mọi tổ chức, cá nhân, nên hiện nay đây là vấn đề cần phải nắm chắc được tình hình tăng giảm của từng loại đất của địa phương, phục vụ cho việc quản lý biến động đất đai đạt hiệu quả cao.
Chỉ Đạo là một xã nằm ở trung tâm huyện Văn Lâm, phía bắc giáp Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, phía nam giáp xã Minh Hải, phía đông giáp xã Đại Đồng, phía tây giáp xã Lạc Đạo; diện tích đất tự nhiên là 597,17ha; diện tích đất nông nghiệp là 346,42 ha, dân số là 11.108 người, xã cách thị trấn huyện 6km. Với vị trí địa lý, giao thông thuận lợi như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển 1 kinh tế, thương mại, du lịch và dịch vụ, giao lưu văn hoá với các huyện, thị trấn khác của huyện Văn Lâm nói riêng và các huyện, tỉnh, thành phố khác trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nói chung. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn cũng như tính cấp bách của công tác đăng kí biến động sử dụng đất trên địa bàn xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, được sự phân công của khoa Tài Nguyên & Môi Trường, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Giảng viên - ThS. Nguyễn Thị Thu Hương, tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng đăng ký biến động sử dụng đất tại xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên” 2.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng đăng ký biến động sử dụng đất trên địa bàn xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; - Đề xuất những giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý biến động đất đai. Yêu cầu của đề tài - Số liệu nghiên cứu phản ánh khách quan và trung thực thực trạng đăng ký biến động sử dụng đất trên địa bàn xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. - Các giải pháp xuất phát từ thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý sử dụng đất trên địa bàn xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Những quy định chung 1. Đất đai Đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) và theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác). Bắt nguồn từ thiên nhiên nhưng theo dòng chảy thời gian con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo về biến đất đai từ sản phẩm của thiên nhiên dần mang trong mình sức lao động đưa lợi ích từ đất đai đến cho xã hội, điển hình là việc đất đai được coi là bất động sản (Phan Thị Thanh Huyền và cs, 2020). Mác đã khái quát vai trò của đất đai: ‘‘Đất đai là đất là mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất’’(Các Mác - Ăng-ghen, 1979).
Đất đai chiếm vai trò quan trọng trong hoạt động đời sống kinh tế xã hội, trong mọi điều kiện thì đất đai là điều kiện đầu tiên của mọi quá trình sản xuất, là nơi mà con người sử dụng như một công cụ lao động và là nơi sinh tồn của con người. Địa điểm để xây dựng làng mạc, các công trình giao thông, thủy lợi đều là dựa trên đất đai. Đất đai cung cấp nguyên liệu cho các ngành như làm gốm, sản xuất xi măng, làm gạch. Dựa trên các ngành khác nhau, đất đai được sử dụng ở các vai trò khác nhau: - Trong các ngành nông lâm nghiệp đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ sở không gian đồng thời là đối tượng lao động và là công cụ hay phương tiện lao động.
- Trong các ngành phi nông nghiệp đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Bên cạnh đó, đất đai cũng chiếm ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị. Theo Luật Đất đai 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khác khu dân cư, xây 3 dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 1993).
Có thể thấy rõ, tài sản quý giá này đánh giá được tiềm năng hay sức mạnh của một quốc gia nào đó. Vậy đất đai đóng vai trò rất quan trọng, cần được nghiên cứu để tìm ra phương hướng duy trì, bảo tồn đồng thời phát triển hơn nữa. Vừa bảo vệ được đất đai, vừa đưa đất đai đóng góp vào quá trình sản xuất. Quản lý nhà nước về đất đai Quản lý Nhà nước về đất đai là tổng thể các tác động có hướng đích của Nhà nước lên các đối tượng quản lý Nhà nước về đất đai (các đối tượng sử dụng đất, mối quan hệ giữa đối tượng sử dụng đất và Nhà nước) và khách thể quản lý nhà nước về đất đai (các loại quỹ đất nhằm mục tiêu sử dụng hợp lý quỹ đất đai thông qua các công cụ quản lý như: quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công cụ tài chính, công cụ pháp luật.
Xuất phát từ đặc điểm và vai trò của đất đai cho thấy, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, tinh thần, vai trò của đất đai là không thể phủ nhận và không thể thiếu. Theo đó, việc khai thác đất đai phải mang tính cộng đồng cao, không ai được sử dụng đất theo ý thích riêng mình. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải thống nhất quản lý đất đai và xây dựng một hệ thống quản lý đất đai có hiệu quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nguồn tài nguyên quý giá này, cũng là nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội hiện tại lẫn tương lai. Quản lý đất đai hiệu quả còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế bởi nó bảo vệ quyền sở hữu và lợi ích của người sử dụng đất, tạo sự yên tâm cho các nhà đầu tư; và ngay cả hoạt động của bộ máy Nhà nước cũng được đảm bảo bởi nó hỗ trợ hữu hiệu cho việc thu ngân sách thông qua các loại thuế, phí, lệ phí liên quan đến đất đai.
Quản lý Nhà nước về đất đai mang đầy đủ những đặc điểm của quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực đất đai. Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất 4 cho người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai. (Điều 4, Luật Đất đai 2013: Sở hữu đất đai) Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam được quy định tại Điều 22, Luật Đất đai 2013, trong đó quy định: (i) ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; (ii) xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; (iii) khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; (iv) quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (v) quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; (vi) quản lý bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; (vii) đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (viii) thống kê, kiểm kê đất đai; (ix) xây dựng hệ thống thông tin đất đai; (x) quản lý tài chính về đất đai và giá đất; (xi) quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; (xii) thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (xiii) phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; (xiv) giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai; (xv) quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai.