CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Đánh giá Doanh nghiệp 1. Khái niệm “Đánh giá” Để tìm hiểu về đánh giá doanh nghiệp. trước hết cần phải thiểu đánh giá là gì, mục đích của hoạt động đánh giá.
Trên thế giới có nhiều quan niệm khách nhau về “đánh giá”. Trong thực tế vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về “đánh giá”, do vậy thuật ngữ này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy vào trọng tâm đối với mục đích đánh giá. - Theo định nghĩa của từ điển Oxford Dictionary: (i) Đánh giá hoạt động thẩm định hoặc định giá hoạt động đo lường hoặc khẳng định giá trị. (ii) Đánh giá là hoạt động đo lường; xác định giá trị hoặc ước lượng tính xác thực của các xác suất, chứng cứ.
- Theo từ điển thuật ngữ của Ủy ban Hộ trợ phát triển (DAC) thuốc tổ chức Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì: Đánh giá là quá trình xác định giá trị hoặc ý nghĩa của đối tượng được đánh giá (một hoạt động, một chính sách hoặc một chương trình). Đánh giá là hoạt động mang tính hệ thống và khách quan nhất có thể, nhằm thẩm định đối tượng đã được lên kế hoạch, đang thực hiện hoặc đã kết thúc. Vì vậy, tùy vào mục đích đánh giá và đối tượng đánh giá thì người ta sẽ có những định nghĩa khác nhau về “Đánh giá” mà không có một định nghĩa chuẩn nào cả. Khái niệm “Đánh giá doanh nghiệp” Trước tiên, để tìm hiểu về “Đánh giá doanh nghiệp”, chúng ta nên hiểu thế nào là “Doanh nghiệp”.
Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. - Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán. - Luật Doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 đã đưa ra khái niệm về doanh nghiệp “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Cho đến nay, khó có thể đưa ra một khái niệm rõ về đánh giá doanh nghiệp. Tùy theo góc độ nghiên cứu mà chúng ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ này: - Theo Bohn A, trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “Đánh giá doanh nghiệp là sự đánh giá về khả nắng một doanh nghiệp có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó”. - Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch, “Đánh giá doanh nghiệp là đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định”. 5 Như vậy, quan điểm về đánh giá doanh nghiệp có thể được khái quát một cách đơn giản: Đánh giá doanh nghiệp liên quan đến môt quá trình mang tính chất hệ thống bằng việc sử dụng các phương pháp đánh giá (phương pháp chuyên gia, phương pháp thống kê, …) để phân tích, phân loại, sắp xếp, đo lường mức độ triển vọng, nguy cơ, rủi ro tiềm tàng của doanh nghiệp một cách độc lập, khách quan và đáng tin cậy nhất nhằm mục tiêu để cho các tổ chức tín dụng, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và bản thân doanh nghiệp được đánh giá ra các quyết định liên quan.
Vai trò của đánh giá doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và các nhà đầu tư có những mục đích khác nhau trong việc đánh giá doanh nghiệp nên những nhóm chủ thể này cũng có những nhận định khác nhau đối với đánh giá doanh nghiệp. Đối với cơ quan quản lí nhà nước Kết quả của hoạt động đánh giá DN là căn cứ vô cùng quan trọng để các cơ quan quản lí Nhà nước sẽ có những quyết sách phù hợp đối với khu vực tư nói chung và từng loại hình DN nói riêng. Theo nghị định 88/2014/ NĐ-CP các dịch vụ xếp hạng tín nhiệm chủ yếu tập trung vào 2 loại hình chính: xếp hạng tín nhiệm với doanh nghiệp, tổ chức và xếp hạng tín nhiệm với công cụ nợ.Đối với các tổ chức tín dụng Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường là hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro rất cao vì TCTD không những phải chịu những rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Nếu TCTD không thu hồi được số nợ mà họ đã cho vay, 6 không chỉ bị mất vốn tự có của bản thân mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả đươc số tiền đã huy động của khách hàng.
Vì vậy vai trò của đánh giá doanh nghiệp (ĐGDN) đối với TCTD là: - Ra quyết định cấp tín dụng đúng - Giám sát và đánh giá khách hàng, khi khoản tín dụng đnag còn dư nợ. Thứ hạng khách hàng cho phép TCTD dự báo chất lượng tín dụng và có những biện pháp đối phó kịp thời. - Phát triển chính sách tín dụng nhằm hướng tới các khách hàng ít rủi ro hơn. - Ước lượng mức vốn đã cho vay sẽ khó thu hồi được để trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, tính giá trị rủi ro.Đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán Mục đích của ĐGDN đối với các nhà đầu tư và thị trường chứng khoán là: - ĐGDN cung cấp những thông tin cần thiết cho người đầu tư về tình trạng của DN để lữa chọn khi đầu tư vào một chứng khoán thích hợp.
- ĐGDN tạo điều kiện huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực hiện được dễ dàng, thuận lợi hơn. - ĐGDN là công cụ quản lí danh mục đầu tư. - ĐGDN là công cụ đánh giá một số rủi ro có liên quan.Đối với các doanh nghiệp được đánh giá Các DN được đánh giá sẽ biết được hiệu quả hoạt động, triển vọng phát triển và rủi ro kinh doanh có thể gặp phải. Trên cơ sở đó đề ra các kế hoạch điều chỉnh chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh.
7 - Với những DN lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng thì kết quả ĐGDN là cơ dở để xây dựng giá trị DN và giá trị của mỗi cổ phần phát hành, là cơ sở để so sánh vị thế cạnh tranh của mình và các DN khác. - ĐGDN góp phần giảm bớt chi phí sử dụng vốn cho DN. - ĐGDN thúc đẩy DN nâng cao hơn trách nhiệm đối với các nhà đầu tư.Mục đích của đánh giá doanh nghiệp Mục tiêu chủ yếu của ĐGDN là đánh giá triển vọng tương lai và đánh giá những nguy cơ tiềm tàng của DN để thiết lập một hệ thống chỉ tiêu, chỉ báo làm cơ sở đưa ra những quyết định liên quan đến DN. Đặc điểm của hoạt động đánh giá doanh nghiệp - Thông tin thu thập phục vụ hoạt động ĐGDN phải mang tính tin cậy cao do được thu thập từ nhiều nguồn.
- ĐGDN thực hiện chức năng độc lập là đánh giá mức độ rủi ro tín dụng hay mức độ tín nhiệm của một doanh nghiệp, không nhằm mục tiêu giới thiệu hoặc bán DN. - Kết quả ĐGDN chỉ là một tiêu chí phục vụ cho quá trình đưa ra các quyết định và có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định. Như vậy ĐGDN là một nhân tố quan trọng nhưng không thể thay thế hoàn toàn cho việc thuyết minh về tính đáng tin cậy của đối tượng được ĐGDN. Các nhân tố cần được xem xét khi đánh giá doanh nghiệp 1.Môi trường của doanh nghiệp Mỗi DN đều hoạt động trong một điều kiện cụ thể nào đó của môi trường kinh doanh và các yếu tố môi trường tạo ra những tác động đến DN thông qua những cơ hội hay nguy cơ xuất phát từ những thay đổi của môi trường.
Do vậy khi ĐGDN cần xem xét những thông tin sau: 8 - Thông tin về môi trường vĩ mô của DN: đánh giá nhằm nắm bắt được qui mô và tiềm năng thị trường của DN và sự tác động của các môi trường. - Thông tin thuộc môi trường ngành: đánh giá nhằm xác định vị thế của DN trong ngành mà nó hoạt động.Sản phẩm và thị trường của doanh nghiệp Kết quả đánh giá nhằm nhận thấy vị thế của DN thông qua sản phầm và thị trường của DN - Thông tin sản phẩm của DN: vai trò của sản phẩm đối với xã hội và nền kinh tế, chu kì đời sống của sản phẩm, tiềm năng của sản phẩm, chất lượng của sản phẩm. - Thông tin thị trường của DN: qui mô thị trường tiềm năng, thị phần của DN, chiến lược cạnh tranh của DN.Quản trị Doanh nghiệp Mục tiêu của các hoạt động quản trị là nhằm nâng cao vị thế cạnh tranh của DN và hướng tới sự phát triển bền vững. - Thông tin về công nghệ - thiết bị của DN: công nghệ sẽ quyết định việc sản xuất ra những sản phẩm ngày càng hoàn hảo với chi phí giảm.
- Thông tin về nguồn nguyên liệu của DN: tính ổn định của nguồn nguyên liệu, quãng đường vận chuyển nguyên liệu, phương án thay thế nguồn nguyên liệu. - Thông tin về địa điểm của DN: địa điểm đặt gần trục giao thông hay khu thị trấn sẽ đem lại lợi thế thương mại cho DN. - Thông tin về loại hình DN và tổ chức quản lí: Các chủ sở hữu DN hoàn toàn có quyền tự do lựa chọn loại hình và cơ cấu tổ chức cho DN nhưng phải tuân theo quy luật và nguyên tắc nhất định. 9 - Thông tin về quản trị nguồn nhân lực: nền văn hóa và bản sắc của DN, chính sách nhân sự, ban lãnh đạo của DN.
- Quy mô của DN 1.Tình hình tài chính Đây là cơ sở cung cấp về tình trạng hoạt động kinh doanh của DN. - Phân tích các chỉ tiêu tài chính: người đánh giá có thể xác định tình hình tài chính của DN tại thời điểm hiện tại đồng thời so sánh với tình hình DN giữa các thời kì và so sánh với DN khác hay giá trị trung bình của ngành. Phân tích chỉ tiêu tài chính được chia thành các nhóm như sau: + Nhóm chỉ tiêu thanh khoản dùng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ của DN, đặc biệt là các khoản nợ ngắn hạn.