CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và pháp lý công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 1. Cơ sở khoa học n 6 - Công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư là công việc bước đầu của quá trình tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo và những bức xúc của công dân về quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính hoặc những thắc mắc, tranh chấp. của người dân mà cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét giải quyết.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai là một trong 13 nội dung của công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết những bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào quan hệ đất đai để tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật nhằm phục hồi lại các quyền lợi bị xâm phạm, đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai. - Với chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai thì tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thường chỉ là vấn đề quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng liên quan đến địa giới hành chính hoặc quyền sử dụng liên quan đến tài sản. - Giải quyết mọi trường hợp tranh chấp về đất đai phải bảo đảm nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; kiên quyết bảo vệ những thành quả cách mạng về ruộng đất, đồng thời sửa lại theo đúng pháp luật những trường hợp xử không đúng. - Giải quyết các tranh chấp về đất đai phải nhằm mục đích phát triển sản xuất, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân.
- Gắn việc giải quyết các vấn đề về đất với tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa mở rộng ngành nghề, phân bố lại lao động, dân cư phù hợp với đặc điểm và quy định của địa phương. Cơ sở pháp lý - Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 02 tháng 12 năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004 và năm 2005; - Căn cứ Luật Đất đai năm 2003 và năm 2013; - Căn cứ Luật Thanh tra năm 2004 và năm 2010; - Căn cứ Luật Thanh tra năm 2010; - Căn cứ Luật Khiếu nại năm 2011; - Căn cứ Luật Tố cáo năm 2011; - Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; n 7 - Căn cứ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; - Căn cứ Nghị định số 41/2005/NĐ-CP ngày 25/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2004; - Căn cứ Nghị định của chính phủ số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật khiếu nại, tố cáo và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo; - Căn cứ Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14/11/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005; - Căn cứ Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra năm 2011; - Căn cứ Thông tư số 01/2005/TT-BTNMT ngày 13/4/2005 của Bộ TN&MT về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003; - Căn cứ Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15 tháng 12 năm 2009 về quy trình giải quyết tố cáo; - Căn cứ Thông tư số 07/2011/TT-TTCP ngày 28 tháng 07 năm 2011 Thanh tra Chính phủ hướng dẫn quy trình tiếp công dân. Các quy định liên quan đến công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 1. Khái niệm về tiếp dân, xử lý đơn thư Công tác tiếp dân là công việc của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, có vai trò quan trọng trong quản lý hành chính Nhà nước.
Góp phần giải quyết những vấn đề của công dân, tổ chức. giúp các cấp chính quyền nắm được tình hình, nguyện vọng của nhân dân trên địa bàn mình quản lý, giúp gắn kết giữa chính quyền và nhân dân phát huy tính dân chủ trong mọi tầng lớp nhân dân. Xử lý đơn thư là công việc của cán bộ chuyên môn và cán bộ tiếp dân thực hiện trước và sau khi tiếp nhận nhằm giúp công tác khiếu nại, tố cáo của người dân và công tác giải quyết, khiếu nại, tố cáo của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền diễn ra nhanh gọn và đúng pháp luật. Khái niệm về khiếu nại, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ khiếu nại 1.
Khái niệm về khiếu nại Tại Khoản 1, Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 [13], [14]; Luật Khiếu nại năm 2011[16] đã nêu rõ: - Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật Khiếu nại quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. - Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại. - Rút khiếu nại là việc người khiếu nại đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chấm dứt khiếu nại của mình. - Cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại là cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân.
- Người bị khiếu nại là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại. - Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. - Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức không phải là người khiếu nại, người bị khiếu nại nhưng việc giải quyết khiếu nại có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ. - Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.
n 9 - Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. - Quyết định kỷ luật là quyết định bằng văn bản của người đứng đầu cơ quan, tổ chức để áp dụng một trong các hình thức kỷ luật đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý của mình theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. - Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại. “Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi hành chính đó là xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình ” [9, tr.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ khiếu nại a. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại Tại Điều 17 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 [10]; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004, năm 2005 [13], [14]; Điều 12 của Luật Khiếu nại năm 2011 [16] đã nêu rõ: - Người khiếu nại có các quyền sau đây: + Tự mình khiếu nại. Trường hợp người khiếu nại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện việc khiếu nại; Trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc khiếu nại; + Nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.