Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sỏ’ pháp lý cho hoạt động khám chữa bệnh miễn phí trẻ em dưói 6 tuổi Năm 1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là nước thứ hai trên Thế giới phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em, theo Công ước này thì trẻ em có quyền được hưởng mức độ cao nhất có thể đạt được về sức khỏe và phương tiện chữa bệnh, an toàn xã hội và bao gồm cả bảo hiểm xã hội. Chính phủ Việt Nam đã cụ thể hóa cam kết của mình bằng những chương trình hành động cụ thể, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các chính sách thể hiện sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt đến sức khỏe của trẻ em. Tại Nghị định 95/CP năm 1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí có quy định: “Trẻ em dưới 6 tuổi được miễn nộp một phần viện phí khi khám chừa bệnh tại các cơ sở y tế công lập” [34].
Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 23/2001/QĐ-TTg ngày 26 tháng 02 năm 2001 về việc phê duyệt Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu chung: “Tạo mọi điều kiện tốt nhất nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và các quyền cơ bản của trẻ em, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh để trẻ em Việt Nam có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sổng ngày càng tốt đẹp hơn” [35]. Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 tại khoản 2 điều 15 quy định: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe. Trẻ em dưới 6 tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền ở các cơ sở y tế công lập” và khoản 4 điều 27 quy định: “Nhà nước có chính sách phát triển sự nghiệp y tế, đa dạng các loại hình dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh, có chính sách miễn giảm phí khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng cho trẻ em, đảm bảo kinh phí khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi” [47], ■ 5 Nghị quyết 46/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “Đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới” ban hành ngày 23/2/2005 cũng khẳng định: “Nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí khám chữa bệnh cho người có công với cách mạng, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuối và các đối tượng chính sách xã hội” [1]. Nghị định sổ 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục sức khỏe trẻ em đã quy định “Trẻ em dưới 6 tuổi được nhà nước cấp thẻ khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập.
Thời hạn hiệu lực ghi trên thẻ được tính từ ngày cấp thẻ đến khi trẻ đủ 72 tháng tuổi” và “UBND cấp xã có trách nhiệm cấp, thu hồi thẻ cho đúng đối tượng” [30]. Các bộ ngành liên quan cũng đã ban hành các thông tư và các văn bản hướng dẫn triển khai các hoạt động. UBDSGĐ-TE đã ban hành thông tư số 02/2005/TT- DSGĐ-TE ngày 10/6/2005 hướng dẫn việc cấp, quản lý và sử dụng thẻ KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập. Theo quy định của thông tư này, UBDSGĐ-TE huyện, tỉnh và trung ương lập cơ sở dữ liệu riêng về trẻ em được cấp thẻ khám chữa bệnh, quản lý trên máy tính, theo dõi tình hình cấp.
cấp lại, đổi, thu hồi, sử dụng thẻ K.CBMP của trẻ em dưới 6 tuổi và “Trẻ em thực tế sinh sống tại địa phương nào thì được ƯBND xã, phường, thị trấn nơi đó cấp thẻ khám chữa bệnh” [58], Ngày 8/8/2007, Chính phủ có quyết định số 1001/TTg giải thể ƯBDSGĐ-TE và chức năng quản lý nhà nước về trẻ em được chuyển từ UBDSGĐ- TE sang Bộ Lao động thương binh & xã hội [36]. Trong khi chờ Bộ Lao động thương binh & xã hội ban hành và in phôi thẻ khám chữa bệnh mới gửi về các địa phương thì Sở Lao động thương binh & xã hội vẫn tiếp tục thực hiện việc cấp phát và quản lý thẻ theo mẫu cũ của ƯBDSGĐ-TE [42]. Bộ Tài chính đã có thông tư 26/2005/TT-BTC ngày 6/4/2005 hướng dẫn quản lý, sử dụng, quyết toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại các cơ sở y tế công lập và Bộ Y tế đã có thông tư 14/2005/TT-BYT ngày 10/5/2005 hướng dẫn thực hiện khám bệnh, chữa bệnh và quản lý, sử dụng, quyết 6 toán kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại các cơ sở y tế công lập. Theo hướng dẫn của các thông tư này, trẻ em đi KCB đúng tuyến được hưởng các quyền lợi theo quy định.CB cho trẻ em dưới 6 tuổi mà cơ sở KCB được thanh toán bao gồm chi phí về thuốc, máu, dịch truyền, vật tư tiêu hao đã xuất sử dụng để điều trị cho trẻ em; chi phí về khám bệnh, ngày giường điều trị, các dịch vụ kỹ thuật được tính theo giá thu viện phí hiện hành của các cơ sở y tế [6], [12], Giá thu viện phí của các cơ sở y tế được xây dựng dựa trên khung giá viện phí ban hành tại thông tư liên bộ số số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của Ban Vật giá chính phủ - Bộ Lao động thương binh & xã hội - Bộ Y tế - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện nghị định 95/NĐ-CP [4].
Đến ngày 5/02/2008, Bộ Tài chính - Bộ Y tế ban hành thông tư liên tịch số 15/2008/TTLT-BTC-BYT thay thế cho thông tư 26/2005/TT-BTC của Bộ Tài Chính và thông tư số 14/2005/TT-BYT của Bộ Y tế. Thông tư này có bổ sung các một số nội dung mà cơ sở K.CB được thanh toán: Chi phí vận chuyển trẻ em trong trường hợp cấp cứu hoặc chuyển tuyến; mua sẳm một số dụng cụ y te thiết yếu; hỗ trợ dinh dưỡng cho trẻ đang điều trị nội trú thuộc các đổi tượng cơ nhỡ, trẻ em thuộc các hộ nghèo theo chuẩn nghèo do nhà nước quy định [9]. Trẻ em dưới 6 tuổi thuộc các hộ gia đình nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, gia đình thuộc các xã có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn còn được hưởng chế độ KCBMP theo quyết định 139 của Chính phủ [33]. Bên cạnh những ưu tiên về KCB cho trẻ em dưới 6 tuổi, ngành y tế cũng đã xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt các chiến lược nhằm phòng bệnh, đẩy mạnh công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em như Chiến lược quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2001-2010 [32].
Chiến lược quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010 [38]. Khái niệm về y tế cơ sở; vai trò của y tế CO’ sở trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe trẻ em ■ 1. Khái niệm về y tế CO' sở Hệ thống y tế Việt Nam được chia thành 3 tuyến: Tuyến trung ương, tuyến tỉnh và tuyến YTCS. Mạng lưới YTCS (gồm y tế quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh; xã, phường; thôn, bản) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được CSSK cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá.
trật tự an toàn xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa [2]. Các cơ sở y tế nằm trong mạng lưới YTCS thực hiện chức năng KCB ban đầu bao gồm các bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã thuộc tỉnh; các PKĐKKV; các TYT xã/phường/thị trấn [20]. Vai trò của y tế CO' sở trong chăm sóc sức khỏe ban đầu và chăm sóc sức khỏe trẻ em Hội nghị Quốc tế về YTCS họp tại Alma-Ata năm 1978 đã xác định CSSK ban đầu là chìa khóa để mang lại sức khỏe cho mọi nhà [28], [69]. CSSK ban đầu là CSSK thiết yếu dựa trên cơ sở thực tiễn, có cơ sở khoa học và chấp nhận được về mặt xã hội, có thể phổ cập đến cá nhân, gia đình và cộng đồng thông qua sự tham gia đầy đủ của họ với chi phí mà cộng đồng có thể chấp nhận được trên tinh thần tự nguyện, tự giác [26].
CSSK ban đầu gồm 8 nội dung: Giáo dục sức khỏe; cải thiện điều kiện dinh dưỡng; cung cấp nước sạch vệ sinh môi trường; bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em - kế hoạch hóa gia đình; tiêm chủng mở rộng; phòng chống bệnh dịch lưu hành; KCB và phòng chống tai nạn thương tích; cung cấp thuốc thiết yểu. Riêng Việt Nam đã đưa thêm 2 nội dung trong hoạt động CSSK ban đầu là: củng cố mạng lưới YTCS và quản lý sức khỏe [20], [23].642 TYT xã, phường. TYT xã phường là đơn vị kỹ thuật y tế đầu tiên tiếp xúc với nhân dân, nằm trong hệ thống y tế nhà nước, phối họp với các ngành, đoàn thể trong xã phường tham gia vào các hoạt động CSSK nhân dân, có nhiệm vụ thực hiện các dịch vụ kỹ thuật CSSK ban đầu tại cộng đồng [20]. phường, thị trấn là đơn vị sự nghiệp thuộc Trung I 8 tâm Y tế (TTYT) huyện [25].
TYT xã phường có vị trí chiến lược quan trọng vì đây là đơn vị gẩn dân nhất, phát hiện những vấn đề sức khỏe sớm nhất, nơi có the giải quyết tại chồ 80% vấn đề sức khỏe của địa phương [1]. Đây cũng là nơi thể hiện sự công bằng trong CSSK rõ nhất, nơi trực tiếp thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về y tế và là bộ phận quan trọng nhất của ngành y tế tham gia ổn định chính trị xã hội. Hằng năm TYT phải đảm nhiệm các dịch vụ K.CB và đồng thời phải thực hiện toàn bộ những nhiệm vụ khác như tiêm chủng mở rộng, phòng chống các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và nhiều nội dung CSSK ban đầu khác. Trong những năm qua, chính nhờ mạng lưới YTCS rộng khắp mà Việt Nam chúng ta luôn có tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi tiêm chủng đạt xấp xỉ gần 100%, kết quả CSSK ban đầu, cốt lõi là việc CSSK bà mẹ, trẻ em được bảo đảm tốt hơn trước.