Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm và vai trò của đất đai trong đời sống kinh tế xã hội 1. Đặc điểm quan hệ đất đai * Đặc điểm tự nhiên Đất đai là sản phẩm thiên nhiên ban tặng cho con người. Đất đai có nguồn gốc tự nhiên nhưng qua bàn tay của con người đất đai được cải tạo và trở thành sản phẩm của người lao động.
Đất đai có đặc điểm sau: Thứ nhất, đất đai có vị trí cố định, không thể di chuyển. Tính cố định của vị trí đó dẫn đến tính giới hạn về quy mô, không gian, có nghĩa là đất đai là nguồn tài nguyên không tái tạo được. Do tính giới hạn của đất đai như vậy nên việc sử dụng đất đòi hỏi phải được kiểm soát để một mặt chống suy thoái, lãng phí và mặt khác tăng cường bồi dưỡng chất đất. Thứ hai, đất đai có tính đa dạng và phong phú tùy thuộc vào mục đích sử dụng đất.
Đất đai nước ta được chia là 3 nhóm: - Nhóm đất nông nghiệp, gồm: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác. - Nhóm đất phi nông nghiệp, gồm: Đất ở (gồm đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi, kênh rạch, suối và mặt nước, đất phi nông nghiệp khác. - Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm: Đất bằng chưa sử dụng, đất đồi núi chưa sử dụng, núi đá không có rừng cây. Sự phân loại đất đai như trên chỉ là tương đối vì mỗi loại đất lại có thể có nhiều mục đích sử dụng khác nhau.
Tức là, người ta có thể chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ mục đích sử dụng tạo khả năng sinh lời thấp sang mục đích sử dụng khác tạo khả năng sinh lời cao hơn. Đặc điểm này của đất đai đặt ra yêu cầu đối với Luan van 4 người sử dụng đất là phải khai thác triệt để lợi thế của mỗi loại đất và sử dụng nó một cách tiết kiệm và hiệu quả nhất. Thứ ba, giá cả của đất đai phụ thuộc rất lớn vào vị trí của nó. Giá đất ở đô thị có giá cao hơn ở nông thôn, đất đai ở trung tâm có giá hơn các vùng khác.
Đất sử dụng cho các hoạt động thương mại, dịch vụ có giá cao hơn đất nông nghiệp. Nói cách khác, vị trí của đất đai, hoặc điều kiện đất đai không chỉ tạo nên lợi thế thương mại cho các đơn vị sản xuất kinh doanh, của các doanh nghiệp, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với một quốc gia trong quan hệ kinh tế đối ngoại. (Vũ Văn Tuyền, 2012) * Đặc điểm pháp lý – kinh tế Quan hệ đất đai không phải là quan hệ giữa người với đất mà là quan hệ giữa người với người đối với đất. Mối quan hệ giữa người với người đối với đất đai được biểu hiện ở các quyền, bao gồm: quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Luật đất đai năm 2003 của Việt nam quy định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu. Nội dung cơ bản quyền sở hữu Nhà nước đối với đất đai bao gồm các quyền: chiếm sở hữu, quyền quản lý (hay quyền sử dụng) và quyền chi phối (hay quyền định đoạt). + Quyền sở hữu đất đai: Ở Việt nam quyền sở hữu đất đai là thuộc về toàn dân. Theo nguyên tắc hiến định: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, thì nhân dân phải là chủ sở hữu đất đai với tư cách là tư liệusản xuất đặc biệt quý giá củađất nước; đồng thời,là cơ sở vật chất để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhà nước là chủ thể sở hữu đất đai, nắm quyền sở hữu về mặt pháp lý, quyền chiếm hữu thực tế và quyền kinh doanh đối với đất đai trong phạm vi cả nước. Quyền này không bị hạn chế về không gian, thời gian đối với toàn bộ đất đai nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Để thực hiện quyền năng đó, yêu cầu đối với Nhà nước là nắm được tình hình sử dụng đất đai về số lượng và chất lượng đất trong phạm vi cả nước cũng như địa phương, sự biến động của đất đai trong từng thời kỳ. Luan van 5 Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước.
Nhà nước nắm giữ đất đai nhưng nhà nước lại chỉ là chủ sở hữu danh nghĩa, còn sở hữu thực tế về đất đai lại thường được giao cho dân, cho các doanh nghiệp. + Quyền quản lý (sử dụng) đất đai: Về chủ thể sử dụng, các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất để sử dụng ổn định lâu dài hoặc có thời hạn. Đối tượng được giao quyền sử dụng đất đã được mở rộng, đa dạng hóa. Quyền của người sử dụng đất cũng được tăng thêm, gồm các quyền: Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
+ Quyền chi phối (định đoạt) đất đai: Là quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai. Quyền định đoạt đất đai của Nhà nước thể hiện: Nhà nước xác định mục đích sử dụng của từng loại đất. Người sử dụng đất phải tuân thủ quy định của Nhà nước về mục đích sử dụng đất. Nhà nước giao đất, cho thuê, thu hồi đất.
Nhà nước quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Quyền định đoạt đất đai là hoàn toàn phụ thuộc Nhà nước, không một chủ thể sử dụng đất nào khác có được. Tuy nhiên Nhà nước không sử dụng toàn bộ đất đai mà chỉ sử dụng một phần nhỏ còn lại Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho người dân. Cho đến nay, qua nhiều lần sữa đổi luật, quyền sử dụng đất của người dân được mở rộng rất nhiều.
(Vũ Văn Tuyền, 2012) Tóm lại, với tư cách là chủ thể quản lý Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra; trao quyền sử dụng đất và thu hồi đất. Quan hệ pháp luật về đất đai không đơn thuần là quan hệ pháp lý mà còn là quan hệ kinh tế, hành chính, môi trường và xã hội. Quan hệ pháp luật đất đai ở Việt nam thể hiện ở hai khía cạnh, chủ yếu nhóm quan hệ sở hữu và nhóm quan hệ sử dụng. Nhóm quan hệ sở hữu là nhóm quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sở hữu đất đai hay là trong quá trình quản lý nhà nước về đất đai bao gồm những quan hệ phát Luan van 6 sinh giữa cơ quan quản lý nhà nước với nhau.
Các quan hệ đất đai thuộc nhóm này rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước không chỉ đơn thuần chỉ là chủ thể sở hữu đất đai, mà còn là chủ thể thực hiện các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với đất đai. Nhóm quan hệ sử dụng đất đai là những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sử dụng đất đai giữa các chủ thể. Trong quá trình này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không tham gia trực tiếp nhưng thực hiện quyền giám sát.
Là chủ thể sở hữu nhưng Nhà nước chỉ trực tiếp sử dụng một phần nhỏ, còn lại giao quyền sử dụng cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình. Vậy nên Nhà nước phải có những quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo quyền lợi của cả chủ sở hữu và chủ sử dụng đất. Như vậy trong pháp luật Việt nam có sự tách bạch giữa chủ sở hữu và chủ thể sử dụng đất trong quan hệ đất đai. Thực ra ở đây có mối quan hệ khăng khít giữa nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu đất đai với người sử dụng đất.
Tuy đất đai thuộc sỡ hữu toàn dân nhưng nhà nước là người đại diện chủ sở hữu vì vậy nhà nước có quyền xác lập hình thức pháp lý cụ thể đối với người sử dụng đất. Nhà nước là người đại diện cho lợi ích quốc gia thông qua việc chủ trì xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có lợi cho hiệu quả chung của đất nước. Trong phạm vi mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, người sử dụng đất có quyền chuyển mục đích sử dụng đất thông qua các hình thức tự chuyển đổi hoặc chuyển nhượng cho tổ chức, cá nhân có năng lực hơn. Mặt khác khi Nhà nước muốn sử dụng vào mục đích gì hay muốn thu hồi đất để phục vụ cho mục đích công cộng thì chủ thể quản lý phải hỏi ý kiến của chủ thể sử dụng xem chủ thể sử dụng có đống ý với kế hoạch của mình hay không.
Vai trò của đất đai đối với đời sống kinh tế-xã hội * Vai trò của đất đai đối với con người Đất đai là một sản phẩm tự nhiên, nó có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các sinh vật trên trái đất nói chung và đối với con người nói riêng. Trong tiến trình lịch sử phát triển của xã hội loài người, con người và đất đai ngày càng trở nên gắn bó mật thiết với nhau. Đất đai đã trở thành nguồn của cải vô tận của con người, con người dựa vào nó để nuôi sống mình. Đất đai luôn là Luan van 7 thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, không có đất đai thì không thể có sự sống.
(Nguyễn Thu Thủy, 2016) Đất đai chính là địa bàn sinh sống của con người. Nó là địa bàn xây dựng các thành phố, làng mạc, nhà ở và các công trình phục vụ cho đời sống con người. * Vai trò của đất đai đối với hoạt động sản xuất kinh doanh Đất đai có trước lao động và ngày càng trở thành một yếu tố vô cùng quan trọng đối với toàn bộ quá trình phát triển của nền kinh tế. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt.