CHƯƠNG 1. Nước thải bệnh viện 1. Nguồn gây ô nhiễm nước thải bệnh viện Nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư. Tuy nhiên nước thải bệnh viện cực kỳ nguy hiểm về phương diện vệ sinh dịch tễ, bởi vì ở các bệnh viện tập trung những người mắc bệnh là nguồn của nhiều loại mầm bệnh đã biết hoặc đôi khi còn chưa biết đối với khoa học hiện đại [12].
Nước thải bệnh viện xuất phát từ các thiết bị vệ sinh và sử dụng nước trong các khu nhà vệ sinh, nhà tắm giặt giũ chăn màn, quần áo, lau rửa sàn nhà, chuẩn bị thức ăn, rửa bát đĩa, chai lọ, chuẩn bị và điều chế thuốc men, chuồng trại nuôi súc vật nghiên cứu…Phần lớn các loại nước thải này có hàm lượng chất hữu cơ và cặn lơ lửng cao, chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh. Trong một số bộ phận khám bệnh và điều trị bằng phương pháp vật lý như X-quang, chiếu xạ… có thể hình thành một lượng nhỏ nước thải chứa các chất ô nhiễm phóng xạ đặc trưng. Nhìn chung nước thải bệnh viện phát sinh từ những nguồn chính sau [17]. Nước thải là nước mưa chảy tràn trên toàn bộ diện tích của bệnh viện.
Nước thải sinh hoạt từ khu nhà bếp, nhà ăn, khu hành chính bệnh viện, phòng bệnh nhân, chứa nhiều chất hữu cơ dễ phân huỷ, các hoá chất tẩy rửa,. Nước thải từ các hoạt động khám và điều trị như: - Nước thải có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu, lau rửa sau các ca mổ, khoa lây) chứa các dịch sinh học, vi trùng gây bệnh, chất thải nguy hại. - Nước thải từ phòng chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hóa chất chứa các hoá chất (trong đó có các hoá chất độc hại), kim loại nặng, dung môi hữu cơ, hoá chất xét nghiệm, các hợp chất vô cơ, chất phóng xạ, dược phẩm quá hạn sử dụng. Nước giặt giũ quần áo, ga, chăn màn… cho bệnh nhân.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ cao học 5. Nước từ các công trình phụ trợ khác. Nước thải bệnh viện là một nguồn thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng đến con người vì khả năng lan rộng trong môi trường, mức độ nhiễm khuẩn cao, khả năng tồn tại lâu và nhân lên của vi khuẩn gây bệnh trong điều kiện giàu chất hữu cơ ở nước thải và nước bề mặt. Nước thải bệnh viện có thể mang các mầm bệnh: tả, thương hàn, lỵ, lỵ amip, leptospyros, bệnh vàng da nhiễm trùng, viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt.
Theo nghiên cứu của Đào Ngọc Phong và cộng sự cho thấy: nước thải bệnh viện làm ô nhiễm các nguồn nước bề mặt như nước sông, nước ao, đầm, hồ giếng khơi (84,5-86,3%), gây ô nhiễm đất (88,4%). Nước thải bệnh viện gây ô nhiễm môi trường và gieo rắc mầm bệnh: số bệnh nhân ở khu dân cư dọc theo hai tuyến sông thoát nước thường cao hơn, đặc biệt là bệnh đường tiêu hoá. Tải lượng nước thải Quy phạm thiết kế cho các hệ thống cấp thoát nước bên trong các khu nhà và công trình của nhiều nước như CHLB Đức, Nga, Mỹ. cho thấy tiêu chuẩn cấp nước cho các nhà an dưỡng là 200-500L/người/ngày; cho bệnh viện và các cơ sở điều trị, chữa bệnh là 500-1000L/giường bệnh/ngày.
Qua khảo sát ở nhiều bệnh viện thông thường ở Nga, Séc, Xlovakia, Bungari tiêu chuẩn nước cấp là 500 L/ngày cho một giường bệnh. Theo Metcalf & Eddy thì tiêu chuẩn thải của bệnh viện là 473 - 908 l/ngày cho 1 giường bệnh (trị số tiêu biểu là 625L/ngày) cho một giường bệnh [36]. Thực tế hoạt động của các bệnh viện cho thấy lượng nước cấp thường cao hơn tiêu chuẩn thiết kế. G đối với bệnh viện lớn (trên 1.000 giường bệnh) với tiêu chuẩn cấp nước 500L/giường.ngày, lượng nước tạo thành từ các bộ phận như sau: Điều trị, chữa bệnh, lau rửa sàn nhà: 250L.
Tắm rửa của bệnh nhân: 100L. Chuẩn bị thức ăn: 25L. Giặt giũ chăn màn: 50L. Nước sinh hoạt của bác sĩ và nhân viên: 25L.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ cao học Các nhu cầu khác (10% tiêu chuẩn): 50L. Ở Việt Nam, nước cấp cho các bệnh viện được tuân theo tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam TCXDVN 4470-87 được nêu trong bảng dưới đây. Tiêu chuẩn cấp nước cho bệnh viện theo TCXDVN 4470 - 87 Nước nóng ở Loại yêu cầu sử dụng nước Đơn vị Nước tiêu thụ 650C Bệnh viện không có khoa điều trị bằng nước: - Hệ thống cấp nước không hoàn L/giường.ngày > 100 >20 chỉnh, tại chỗ - Hệ thống cấp nước hoàn chỉnh L/giường.ngày 300-400 > 60 Khoa điều trị bằng nước L/lần điều trị 400 Nhà khám L/lần khám 10-15 2-3 Tưới rửa buồng L/m2 1,5-2,0 Thực tế hiện nay, lượng nước sử dụng ở các bệnh viện nước ta rất lớn, cao hơn tiêu chuẩn cấp nước rất nhiều. Các nghiên cứu đều cho thấy lưu lượng nước thải các bệnh viện vượt quá công suất thiết kế nhiều lần.
Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vào hệ thống thoát nước. Lượng nước thực tế thải ra tính cho một giường bệnh tính trong một ngày đêm vượt tiêu chuẩn của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các quy định hiện hành của Tiêu chuẩn Việt Nam. Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn cấp nước của các bệnh viện là rất khác nhau. Nhìn chung đối với các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh tiêu chuẩn cấp nước ở mức 600-800L/giường bệnh.
Đối với các bệnh viện chuyên khoa hoặc các bệnh viện trung ương, lượng nước sử dụng tương đối cao (đến 1000L/giường/ngày) do nước sử dụng cho các mục đích nghiên cứu đào tạo. Tại các bệnh viên chuyên khoa, tỷ lệ số bác sỹ và nhân viên phục vụ trên một giường bệnh tương đối cao (từ 1,2-1,4). Số bệnh nhân điều trị nội trú cũng lớn hơn số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều…Một trong những nguyên nhân làm cho lượng nước thải tăng là tổn thất do thiếu ý thức của người nhà bệnh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ cao học nhân khi sử dụng khu vệ sinh hoặc vòi nước công cộng…Một số nghiên cứu đã đưa ra mức độ sử dụng nước tại một số bệnh viện đa khoa ở nước ta như sau: Bảng 1. Nhu cầu tiêu thụ nước tính trên một giường bệnh Số lượng Nhu cầu tiêu thụ nước Đối tượng (Người/ngày) (L/ngày đêm/người) Số bệnh nhân (giường bệnh) N 300 - 350 Số cán bộ công nhân viên (0,80-1,1) N 100-150 Người nhà bệnh nhân (0,9 -1,3) N 50-70 Sinh viên thực tập, khách vãng lai (0,7-1) N 20-30 Tổng số nước dùng thực tế (3,4 - 4,4) N 470-600 Nguồn: [11] Ở Việt Nam, lưu lượng nước thải của bệnh viện đa khoa được xác định như trong bảng sau.
Lưu lượng nước thải các bệnh viện Quy mô bệnh viện Tiêu chuẩn dùng nước Lượng nước thải TT (Số giường bệnh) (L/giường/ngày) (m3/ngày) 1 <100 700 70 2 100 – 300 700 100 – 200 3 300 – 500 600 200 – 300 4 500 – 700 600 300 – 400 5 > 700 600 > 400 6 BV kết hợp nghiên cứu và 1000 > 500 đào tạo > 700 Nguồn: [11] Theo Trung tâm Kỹ thuật Môi trường Đô thị và Khu công nghiệp – Trường Đại học Xây dựng chỉ tính ở Hà Nội tổng lượng nước thải các bệnh viện là khoảng 6000m3/ngày đêm [6]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ cao học Lưu lượng thải của các bệnh viện trước hết phụ thuộc vào số giường bệnh, điều kiện cấp nước, mức độ hiện đại của bệnh viện, số lượng thân nhân của người bệnh kèm theo và mùa (nóng, lạnh, thời điểm bùng phát dịch bệnh). Nước thải bệnh viện được xả thải không ổn định theo thời gian trong ngày và trong tuần. Thông thường lượng nước sử dụng lớn nhất vào đầu buổi sáng, khi bắt đầu ngày làm việc và thực hiện quá trình khám bệnh.
Lưu lượng thải trong ngày tập trung vào ban ngày cho tới 8 – 9 giờ tối. Vào đêm và sáng sớm lưu lượng thải thấp. Các số liệu điều tra khảo sát cho thấy, hệ số không điều hoà Kch phụ thuộc quy mô bệnh viện (tính theo số giường và nhân viên phục vụ) và dao động trong khoảng 1,6-2,5 [7]. Lượng nước thải của bệnh viện trong một ngày là chỉ tiêu để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện.
Đặc điểm ô nhiễm nước thải bệnh viện Nhìn chung nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất gần giống nước thải sinh hoạt đô thị, tuy nhiên có chứa một số thành phần ô nhiễm đặc trưng. Theo nhiều nghiên cứu, trong nước thải bệnh viện còn chứa các chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, chất tẩy rửa các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh…Sự có mặt của các chất này ảnh hưởng bất lợi cho quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học và cản trở các qúa trình sinh hoá khác diễn ra trong nước dẫn đến việc giảm hiệu quả làm sạch nước thải trên các công trình xử lý. Ví dụ người ta quan sát thấy việc giảm hiệu quả xử lý nước thải bệnh viện bằng biophin nhỏ giọt khi trong nước thải chứa chất kháng sinh streptomixin ở nồng độ 0,7 – 1 g/l mà thực tế trong những trường hợp riêng biệt nồng độ streptomixin có thể đến 12 g/l. Như vậy hiệu quả xử lý nước thải giảm đáng kể theo các chỉ tiêu hoá học, đặc biệt là các chỉ tiêu vi khuẩn.
Khi nồng độ streptomixin là 12 g/l hiệu quả xử lý thực tế bằng không. Việc sử dụng rộng rãi các chất tẩy rửa ở xưởng giặt là của bệnh viện cũng tạo nguy cơ thực tế làm xấu đi mức độ hoạt động của công trình xử lý. Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong nước thải làm giảm đi khả năng tạo huyền phù trong bể lắng và đa số vi khuẩn tụ tập lại trong bọt. Những chất 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn thạc sỹ cao học tẩy rửa riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình làm sạch sinh học nước thải: chất tẩy rửa anion tăng lượng bùn hoạt tính, cation lại làm giảm đi [12].