MỞ ĐẦU Hệ thống các bệnh viện, cơ sở y tế ở Việt Nam đang từng bước góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Bên cạnh những mặt tích cực mà các cơ sở y tế đem lại quá trình hoạt động của các cơ sở này cũng đang làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Số lượng bệnh viện tăng đồng nghĩa với việc thải vào môi trường một lượng lớn các chất thải y tế nguy hại, đặc biệt là nước thải bệnh viện là một trong những vấn đề đang được rất quan tâm hiện nay. Nước thải bệnh viện phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong quá trình hoạt động của bệnh viện như: máu, dịch cơ thể, giặt quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn màn cho các giường bệnh, súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, vệ sinh, lau chùi làm sạch phòng bệnh… Đặc điểm của các loại nước thải này là chứa nhiều tạp chất, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và đặc biệt là vi trùng gây bệnh.
Loại nước thải này nhất thiết phải được xử lý và khử trùng trước khi thải vào môi trường. Hiện trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An (năm 2012), có tổng 6651 giường bệnh, đạt 20,6 giường bệnh/vạn dân, gồm 29 Bệnh viện công lập (12 Bệnh viện tuyến tỉnh, 17 Bệnh viện tuyến huyện, 4925 giường bệnh). Theo kế hoạch năm 2015 toàn tỉnh đạt 25 giường bệnh/vạn dân, năm 2020 đạt 30 giường/vạn dân [3]. Hiện có 03/12 bệnh viện tuyến tỉnhvà 02/17 bệnh viện tuyến tỉnh có hệ thống xử lý nước thải.
Như vậy, có thể thấy một thực tế là vấn đề xử lý nước thải tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang rất cấp bách, hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, một số bệnh viện được đầu tư hệ thống xử lý chất thải ở các bệnh viện, song vấn đề lựa chọn công nghệ chưa phù hợp, nhiều công nghệ chưa đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, nay đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển. Bên cạnh đó, lượng bệnh nhân và số giường bệnh ngày một gia tăng do tốc độ tăng dân số, dẫn đến lượng nước thải tăng theo vượt quá công suất thiết kế của hệ thống xử lý, các quy trình quản lý, chế độ vận hành, bảo dưỡng chưa - 1- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGUYỄN MAI PHONG được thực hiện đúng kỹ thuật. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nước thải sau khi xử lý. Từ những bất cập trên, để góp phần bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cư, sức khỏe của nhân viên y tế, hạn chế tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường và đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả xử lý chất thải bệnh viện nói chung, nước thải bệnh viện nói riêng, trong luận văn này thực hiện đề tài: “Khảo sát đánh giá công nghệ hệ thống xử lý nước thải một số bệnh viện tuyến huyện tại tỉnh Nghệ An và đề xuất phương án nâng cao hiệu quả”.
Với mục tiêu nghiên cứu chính: - Khảo sát thực địa ba bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An để điều tra hiện trạng nước thải và hoạt động của hệ thống xử lý nước thải làm cơ sở đánh giá công nghệ. - Đánh giá công nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò. - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý cho hệ thống xử lý nước thải ba bệnh viện. Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm: - Tổng quan tài liệu về nước thải bệnh viện, các phương pháp xử lý, đánh giá công nghệ môi trường.
- Điều tra khảo sát hiện trạng nước thải và hệ thống xử lý nước thải 3 bệnh viện tuyến huyện tỉnh Nghệ An. - Nghiên cứu đánh giá công nghệ xử lý nước thải bệnh viện tại bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò - Đề xuất giải pháp tăng hiệu quả xử lý cho hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò và các bệnh viện tuyến huyện tại tỉnh Nghệ An. - 2- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGUYỄN MAI PHONG CHƢƠNG 1. Tổng quan về nƣớc thải bệnh viện 1.
Nguồn gốc phát sinh và thành phần nước thải bệnh viện Theo Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế: Nước thải y tế là hỗn hợp các chất ô nhiễm trong pha lỏng phát sinh từ các hoạt động của các cơ sở y tế. Trong nước thải y tế có chất ô nhiễm nguồn gốc sinh hoạt và từ các hoạt động các cơ sở y tế; vì vậy các thành phần trong đó có thể là các chất ô nhiễm thông thường như: chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ dễ oxy hóa sinh hóa (đặc trưng bởi BOD5), các chất dinh dưỡng nitơ, phốtpho và các thành phần nguy hại như vi khuẩn gây bệnh, hóa chất độc hại,…[2]. Nước thải bệnh viện được hình thành trong tất cả các hoạt động của bệnh viện. Nhìn chung nước thải bệnh viện phát sinh từ những nguồn chính sau [2] : 1.
Nước thải hình thành tại các khu vệ sinh chứa phân và nước tiểu. Trong nước thải loại này chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh nguồn gốc từ phân và có hàm lượng hữu cơ, nitơ, chất rắn lơ lửng. Các loại nước thải này thường gây lắng cặn tại đầu cống xả, làm nguồn nước mặt thiếu hụt oxi, gây mùi hôi và màu nước đen tại vùng tiếp nhận nước thải. Hiện nay, tại các bệnh viện loại nước thải này thường được lắng sơ bộ trong các bể tự hoại trước khi thu gom cùng với các loại nước thải khác.
Nước thải sinh hoạt từ các bồn tắm, chậu rửa, xưởng giặt, khu bếp,… của bệnh viện. Loại nước thải này có thành phần phức tạp và chủ yếu chứa các chất rắn lơ lửng, các chất tẩy rửa và các loại vi trùng gây bệnh khác nhau. Ngoại trừ từ nước thải từ nhà bếp, các chất hữu cơ trong loại nước thải này thường khó phân hủy sinh học. Trong loại nước thải này còn chứa nhiều cát, các chất vô cơ và các chất bẩn khác từ quá trình tẩy rửa quần áo, ga, chăn màn,… của bệnh viện.
Nước thải y tế nguy hại từ các hoạt động khám và điều trị như: - 3- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGUYỄN MAI PHONG - Nước thải có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu, lau rửa sau các ca mổ, khoa lây) chứa các dịch sinh học, vi trùng gây bệnh, chất thải nguy hại. - Nước thải từ phòng chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hóa chất chứa các hóa chất (trong đó có các hóa chất độc hại), kim loại nặng, dung môi hữu cơ, hóa chất xét nghiệm, các hợp chất vô cơ, chất phóng xạ, dược phẩm quá hạn sử dụng. Ngoài các loại nước thải nêu trên còn có nước chảy tràn bề mặt (chủ yếu là nước mưa) được thu gom vào các mương rãnh hoặc cống ngầm sau đó dẫn ra hệ thống thoát nước mưa bên ngoài. Việc xác định đúng lưu lượng nước thải của bệnh viện trong một ngày để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện.
Theo tiêu chuẩn thoát nước bằng với tiêu chuẩn cấp nước, do vậy lượng nước mà bệnh viện dùng trong một ngày sẽ chính là lượng nước thải trong một ngày. Theo nhiều tiêu chuẩn quốc gia của các nước thì lượng nước cấp tính trên một giường đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng thông thường là 200 – 250 l/ngày, còn đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng đặc biệt là 500 l/ngày. Tuy nhiên, thực tế lượng nước sử dụng lớn hơn nhiều tiêu chuẩn trên. Qua khảo sát ở nhiều bệnh viện thông thường ở Nga, Séc, Xlôvakia, Bungari tiêu chuẩn nước là 500 l/ngày.
Theo Metcalf & Eddy (1984) thì tiêu chuẩn thải của bệnh viện là 473 – 908 l/ngày cho 1giường bệnh, trị số tiêu biểu là 625 l/ngày [35]. Ở Việt Nam theo nghiên cứu của nhiều tác giả, lưu lượng nước thải của bệnh viện, được xác định như trong bảng 1.1 dưới đây: - 4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGUYỄN MAI PHONG Bảng 1. Tiêu chuẩn nƣớc cấp và lƣợng nƣớc thải bệnh viện STT Quy mô bệnh viện Tiêu chuẩn nƣớc cấp Lƣu nƣớc thải (giƣờng bệnh viện) (l/giƣờng.ngày) m3/ngày 1 <100 700 70 2 100 – 300 700 100 - 200 3 300 – 500 600 200 - 300 4 500 – 700 600 300 – 400 5 > 700 600 >400 6 Bệnh viện kết hợp nghiên 1000 >500 cứu và đào tạo >700 [Hội Môi trường xây dựng, 2002] Đối với các trung tâm y tế dự phòng hoặc các trạm y tế xã, tiêu chuẩn cấp nước thường thấp hơn các giá trị nêu ở bảng trên. Lưu lượng nước cấp cho các đối tượng này thường dao động từ 20 đến 50 m3/ngày.
Theo nghiên cứu của Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp (2002), Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường (2005), Hội môi trường xây dựng (2008),… lượng nước thải tính cho một giường bệnh trong một ngày được chọn như sau: - Điều trị, chữa bệnh, lau sàn nhà: 250 lít/ngày - Tắm rửa của bệnh nhân: 100 lít/ngày - Chuẩn bị thức ăn: 25 lít/ngày - Giặt chăn màn: 50 lít/ngày - Nước sinh hoạt của bác sĩ và nhân viên: 25 lít/ngày - Các nhu cầu khác: 50 lít/ngày Nước thải bệnh viện là một nguồn thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng đến con người vì khả năng lan rộng trong môi trường, mức độ nhiễm khuẩn cao, khả năng tồn tại lâu và nhân lên của vi khuẩn gây bệnh trong điều kiện giàu chất hữu cơ ở nước thải và bề mặt. Nước thải bệnh viện có thể mang các - 5- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGUYỄN MAI PHONG mầm bệnh: tả, thương hàn, lỵ amip, leptosspyros, bệnh vàng da nhiễm trùng, viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt… 1. Đặc điểm ô nhiễm nước thải bệnh viện Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về thành phần nước thải bệnh viện cho thấy, theo cả dạng ô nhiễm và cả theo nồng độ thì nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất gần giống nước thải sinh hoạt đô thị, tuy nhiên có chứa một số thành phần ô nhiễm đặc trưng.