CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về nước thải bệnh viện 1.1 Đặc điểm chung của nước thải bệnh viện Thông thường chất thải bệnh viện gồm 3 loại: chất thải rắn, nước thải và khí thải với mức độ độc hại khác nhau. Nguy hiểm nhất là các bệnh phẩm gồm các tế bào, các mô bị cắt bỏ trong quá trình phẫu thuật, tiểu phẫu, các găng tay, bông gạc có dính máu mũ, nước lau rửa từ các phòng thiết bị, phòng mổ, khoa lây, khí thoát ra từ các kho chứa nhất là các kho chứa radium, khí hơi từ các lò thiêu… Sau đó là các chất thải từ các dụng cụ y tế như kim tiêm, ống thuốc, dao mổ, lọ xét nghiệm, túi oxy… Cuối cùng là nước thải và nước thải sinh hoạt. Nước thải bệnh viện là một dạng nước thải sinh hoạt và chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số lượng nước thải sinh hoạt của khu dân cư. Nước thải bệnh viện phát sinh từ nhiều khâu và quá trình khác nhau: -Nước thải sinh hoạt của bác sĩ, y tá, công nhân viên bệnh viện, của bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân.
-Nước thải vệ sinh, lau chùi, làm sạch các phòng bệnh và phòng làm việc. -Nước thải từ giặt quần áo, chăn mền, drap trải giường, khăn lau … từ các khâu pha chế thuốc, nấu ăn, rửa chén bát, dụng cụ…Tùy theo từng khâu và quá trình cụ thể, nước thải sẽ có tính chất và mức độ ô nhiễm khác nhau. Nước thải phát sinh do quá trình khám chữa bệnh có đặc tính là khi chưa phân huỷ có mầu nâu đỏ, chứa nhiều cặn lơ lửng và có mùi tanh khó chịu. Nước thải y tế có các chất rắn lơ lửng, hoá chất, thuốc men, vi khuẩn, dung môi trong dược phẩm và các phế thải khác.
Nước thải này có tác hại như sau: + Nếu không được xử lý đúng mức sẽ gây ô nhiễm trực tiếp cho môi trường nước, làm tích tụ chất độc trong các động vật, thực vật thuỷ sinh. 5 + Các loại vi sinh và mầm bệnh trong nước thải có khả năng gây nhiễm bệnh trên diện rộng cho người và động vật. + Các loại dẫn xuất có trong hóa chất, dược phẩm trong nước thải và gây hại về lâu dài cho các sinh vật sống trong nước. Đối với con người khi tiếp xúc với các chất này sẽ dễ bị các bệnh ngoài da,.
Nước thải phát sinh từ các sinh hoạt của con người trong bệnh viện, căng tin, nhà vệ sinh… Có đặc tính là khi chưa phân huỷ có màu đen có chứa nhiều cặn lơ lửng, rác, thức ăn thừa, dầu mỡ và các phế thải khác. Nước thải này có các tác hại như sau: + Chứa nhiều các hoạt chất hữu cơ, Hydrocacbon, Nitơ, Photpho, lưu huỳnh. Các chất này dễ thối rữa, phân huỷ thành các sản phẩm gây ô nhiễm thứ cấp. + Các hợp chất vô cơ trong nước thải sinh hoạt thường không gây ảnh hưởng đáng kể do nồng độ các chất này trong nước thấp nhưng nồng độ chloride trong nước thải cao ảnh hưởng xấu đến quá trình xử lý nước thải.
+ Nước thải sinh hoạt có chứa hàm lượng lớn các vi sinh vật, vi khuẩn ký sinh trong ruột người và động vật nên gây nguy cơ lan truyền ô nhiễm nước mặt và nước ngầm, gây ô nhiễm môi trường. Hàng ngày từ các bệnh viện, một khối lượng lớn nước thải chưa được xử lý chứa nhiều chất bẩn hữu cơ và vi trùng gây bệnh thấm vào lòng đất, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm. Mặt khác, nước thải trong các mương hở bốc mùi vào khu vực xung quanh gây ảnh hưởng không khí trong bệnh viện và các khu vực lân cận. Mùa mưa, nước thải theo nước mưa chảy tràn có thể gây ô nhiễm môi, lây lan dịch bệnh.
Do đó, để giữ tốt vấn đề vệ sinh dịch tễ trong bệnh viện và ngăn chặn lan truyền bệnh dịch ra khu vực lân cận, nhằm đảm bảo việc khám chữa bệnh tốt cho bệnh nhân cũng như bảo vệ sức khỏe cho người dân xung quanh các bệnh viện, cần đầu tư xây dựng một hệ thống xử lý nước thải bệnh viện đạt tiêu chuẩn và không còn khả năng gây bệnh là một nhu cầu bức thiết.Thành phần, tính chất của nước thải bệnh viện Nước thải y tế được hình thành từ các quá trình khám chữa bệnh và các hoạt động khác trong bệnh viện, trong nước thải y tế chứa các ô nhiễm hữu cơ thông qua trị số BOD5, hàm lượng Nitơ thông qua các trị số NH 4 , NO X ,các chất khử trùng sử dụng trong bệnh viện, các kim loại nặng và các chất ức chế đối với VSV, các vi khuẩn như coliform, Salmonella, Shigella, Vibro, các vi khuẩn gây bệnh đường ruột, các loại ký sinh trùng, , trứng giun, sán.1: Một số vi sinh vật gây bệnh theo đường nước Sinh vật Bệnh truyền theo đường nước Vi trùng Salmonella typhi Thương hàn Salmonella paratyphi Phó thương hàn Salmonella sp. Viêm dạ dày, ruột Shigella sp. Lỵ Vibrio cholerae Tả Virus Entorovirus Nhiều loại bệnh Rotavirus Tiêu chảy Động vật nguyên sinh Giardia lambria Tiêu chảy Cryptosporidium Tiêu chảy Giun sán Diphyllobothrium latum Bệnh giun sán Taenia saginata Bệnh giun Tùy theo đặc thù của từng bệnh viện, nước thải bệnh viện còn chứa nhiều loại hợp chất hóa học khác nhau phát sinh từ quá trình xét nghiệm, thí nghiệm chẩn đoán bệnh, khử trùng, lưu trữ thuốc, hay nước thải có chứa các hợp chất phóng xạ từ khu vực X-quang. 7 Các chỉ tiêu ô nhiễm trong nước thải của bệnh viện (dựa vào kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường) được nêu trong bảng 1.2: Thành phần nước thải Giá trị Chỉ tiêu hoá lý Min Max T.Bình Nhiệt độ nước thải 20oC 31oC 27oC pH 6,9 7,58 7,15 Hàm lượng cặn lơ lửng (mg/L) 100 270 165 Ôxy hòa tan (mg/L) 0 1,2 0,5 BOD 5 (mg/L) 150 300 250 COD (mg/L) 250 560 450 Nitơ Amon(NH 4 +) (mg/L) 12,5 35,3 23 PO 4 3- (mg/L) 2,1 7,9 5,2 Cl- (mg/L) 82,5 151,3 127 Coliforms (MPN/100 mL) 4x107 2x109 2x108 (Nguồn: Tổng hợp các kết quả phân tích nước thải các bệnh viện khu vực phía Bắc từ năm 1996 đến 2007 của Viện khoa học và kỹ thuật môi trường (IESE)) Để có sự so sánh giữa các kiểu bệnh viện khác nhau ta phải tiến hành phân chia các bệnh viện theo tuyến và theo chuyên khoa để đánh giá.
Kết quả đánh giá theo tuyến cho thấy nước thải của bệnh viện tuyến tỉnh có hàm lượng chất hữu cơ (thể hiện ở các giá trị BOD 5 ,COD , DO) cao hơn so với bệnh viện tuyến trung ương và bệnh viện ngành.3: Kết quả đánh giá thông số ô nhiễm chung cho từng tuyến Bệnh viện PH BOD 5 COD Tổng TổngN SS mg/l mg/l P mg/l mg/l mg/l Trung ương 6,97 99,80 163,20 2,55 16,06 18,6 Tỉnh 6,91 163,90 214,40 1,71 18,93 10,0 Ngành 7,12 139,20 179,90 1,44 18,85 46,0 (Nguồn: Viện Y học lao động và MT- Bộ y tế và Trung tâm CTC) 8 Nguyên nhân nước thải bệnh viện tuyến tỉnh có hàm lượng chất ô nhiễm cao hơn tuyến trung ương và tuyến ngành do lượng nước sử dụng tính cho 1 giường bệnh thấp nên nồng độ chất ô nhiễm cao hơn so với các tuyến khác.4: Đánh giá nước thải bệnh viện theo chuyên khoa Chuyên khoa PH BOD 5 COD Tổng TổngN SS mg/l mg/l P mg/l mg/l mg/l Đa khoa 6,91 147,56 201,4 1,57 17,24 37,96 Lao 6,72 143,23 207,25 1,15 16,06 22,23 Phụ sản 7,21 167,00 221,90 0,99 13,19 51,25 (Nguồn: Viện Y học lao động và MT- Bộ y tế và Trung tâm CTC) Nhìn chung hàm lượng chất ô nhiễm không có sự khác biệt lớn khi phân chia các bệnh viện theo chuyên khoa. Các thông số ô nhiễm không có nồng độ đáng kể để đánh giá. Đặc điểm về lưu lượng của nước thải bệnh viện Theo kết quả khảo sát trong thời gian 1997-2002 của Trung tâm tư vấn và chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường, định mức sử dụng nước tính trên giường bệnh nước ta như bảng sau.5: Định mức sử dụng nước tính theo giường bệnh Đối tượng Số lượng/ ngày Nhu cầu tiêu thụ nước, lít/ngày Số giường bệnh N 300-350 Số cán bộ công nhân viên (0,8-1,1)N 100-150 Người nhà bệnh nhân (0,9-1,3)N 50-70 Sinh viên thực tập, khách (0,7-1)N 20-30 Tổng số nước dùng thực tế (3,4-4,4)N 470-600 Tính cả nhu cầu phát triển 650-950 (Nguồn: Trung tâm tư vấn chuyển giao công nghệ nước sạch và môi trường) Phần lớn lượng nước thải sau sử dụng đều xả vào hệ thống thoát nước. Lượng nước thực tế thải ra tính cho một giường bệnh trong một ngày đêm vượt tiêu chuẩn của các nước Đức, Nga, Mỹ và lớn hơn rất nhiều so với các tiêu chuẩn Việt 9 Nam.
Tiêu chuẩn dùng nước của một số bệnh viện do Chính Phủ Thụy Điển tài trợ xây dựng như bệnh viện Uông Bí là 2.500 l/giường bệnh.ngày đêm, Viện bảo vệ sức khỏe trẻ em là 1.700l/giường bệnh.ngày đêm, của các bệnh viện quân đội và công an khoảng 1.000l/giường bệnh. Do đặc điểm chữa bệnh và nghiên cứu khác nhau, tiêu chuẩn nước cấp của các bệnh viện là rất khác nhau. Nhìn chung, đối với các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh, tiêu chuẩn cấp nước ở mức 600-800l/ giường bệnh. Đối với các bệnh viện chuyên khoa hoặc các bệnh viện trung ương, lượng nước sử dụng tương đối cao (đến 1.ngày đêm) do nước sử dụng cho cả mục đích nghiên cứu đào tạo.
Tại các bệnh viện chuyên khoa, tỉ lệ số bác sĩ và nhân viên phục vụ trên một giường bệnh tương đối cao (1,2-1,4). Số bệnh nhân điều trị nội trú cũng lớn hơn số giường bệnh theo thiết kế rất nhiều. Ngoài ra còn một nguyên nhân khác làm cho lượng nước thải tăng là tổn thất do thiếu ý thức của người nhà bệnh nhân khi sử dụng khu vệ sinh hoặc vòi nước công cộng. Theo tính toán của Bộ môn Cấp thoát nước- môi trường nước của trường Đại Học Xây Dựng Hà Nội, dựa trên cơ sở khảo sát một số bệnh viện, thì nhu cầu sử dụng nước tại các bệnh viện như sau: -Điều trị: 18% -Lau nhà: 15% -Bệnh nhân tắm: 10% -Giặt giũ: 18% -Nấu nước, thức ăn: 12% -Cán bộ công nhân viên sử dụng: 12% -Hao hụt tổn thất: 15% Như vậy ở nước ta, theo các nghiên cứu thì tiêu chuẩn thải nước bệnh viện từ 600-1000 l/giường bệnh.ngày đêm phụ thuộc vào các loại và các cấp bệnh viện.
Phần lớn các bệnh viện, phòng khám, cơ sở điều trị… đều nằm ở các khu đô thị. Đây là nơi tập trung đông người, có lượng nước tiêu thụ lớn. Do đó, có thể thấy nước thải bệnh viện là một dạng của nước thải sinh hoạt đô thị. Trong nước thải 10 chứa chủ yếu các chất hữu cơ và chất ô nhiễm nguồn gốc sinh hoạt của con người.