phần mở đầu, danh mục các từ viết tắt, danh sách các Bảng, Hình, kết luận, phụ lục, Luận văn có kết cấu bao gồm 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về đánh giá công chức theo kết quả công việc Chƣơng 2: Thực trạng công tác đánh giá công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Lào Cai Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện đánh giá công chức theo kết quả công việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Lào Cai. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC THEO KẾT QUẢ CÔNG VIỆC 1. Những vấn đề cơ bản về đánh giá công chức theo kết quả công việc 1. Quan niệm, đặc điểm và ý nghĩa đánh giá công chức theo kết quả công việc 1.
Một số quan niệm có liên quan đến đánh giá công chức theo kết quả công việc. Quan niệm về công chức Quan niệm công chức thƣờng đƣợc hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc xác định ai là công chức thƣờng do các yếu tố sau quyết định: - Hệ thống thể chế chính trị. - Hệ thống thể chế hành chính.
- Tính truyền thống. - Sự phát triển kinh tế - xã hội. - Các yếu tố văn hoá. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở một nƣớc nào đó thƣờng là: Là công dân của nƣớc đó; Đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển; Đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Phạm vi công chức có thể rộng hẹp. Ví dụ có những nƣớc coi công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp hay các lực lƣợng vũ trang, công an). Trong khi đó có những nƣớc lại chỉ giới hạn những ngƣời làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc. Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Một số cách tiếp cận phổ biến là: Công chức là ngƣời làm việc thƣờng xuyên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc. Quan niệm này nhằm để phân biệt những ngƣời làm cho Nhà nƣớc trong các tổ chức, cơ quan khác của Nhà nƣớc bằng tính thƣờng xuyên của công vụ. Tuy 11 nhiên, trong đó không đề cập đến điều kiện gì đã tạo cho họ là ngƣời làm thƣờng xuyên. [19] Công chức là ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc.
Cách tiếp cận này mở rộng đối tƣợng làm việc cho Nhà nƣớc không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác nhƣ lập pháp, tƣ pháp. Đồng thời cũng bao gồm cả những ngƣời trong các lực lƣợng vũ trang, công an. Cách tiếp cận này không hạn chế cả những ngƣời làm việc thƣờng xuyên, bầu cử cũng nhƣ những ngƣời làm công khác. [19] Công chức là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc để thực thi quyền hành pháp.
Cách tiếp cận này hạn chế nhóm ngƣời làm việc cho Nhà nƣớc trong bộ máy hành pháp nhƣng gắn liền với quyền lực hành pháp. Điều đó cũng có nghĩa là những ngƣời thực thi nhiệm vụ (tác nghiệp) các loại công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức. Hay nói khác đi, công chức chỉ những ngƣời có quyền đƣa ra các quyết định quản lý hành chính nhà nƣớc và triển khai thực hịên các quyết định đó. [19] Cách tiếp cận này gắn liền với công vụ cho rằng tất cả những ai thực thi công vụ đều đƣợc gọi là công chức.
Ở mô hình công vụ theo việc làm, phần lớn các vị trí đều tìm để thuê và bổ nhiệm những ngƣời có năng lực, khả năng. Ở Việt Nam, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 ra đời (có hiệu lực từ 01/01/2010) là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trƣớc đến nay cắt nghĩa đƣợc rõ ràng hơn về khái niệm “công chức”. Trong Luật này, khái niệm công chức có phạm vi rộng hơn. Theo đó, công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và 12 hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra còn có công chức cấp xã. Đó là những ngƣời đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. [19] Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả sử dụng khái niệm “Công chức” theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Quan niệm về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện.
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND là cơ quan có nhiệm vụ tham mƣu giúp UBND cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cùng cấp theo quy định của pháp luật, góp phần đảm bảo sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ƣơng đến cơ sở. Theo Điều 3 Nghị định số: 37/2014/NĐ-CP ngày 05/05/2014 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì: Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mƣu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nƣớc về ngành, lĩnh vực ở địa phƣơng và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phƣơng. Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hƣớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh. Từ các khái niệm, quan niệm nêu trên “Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có thể đƣợc hiểu là công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; đối 13 với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lƣơng đƣợc bảo đảm từ quỹ lƣơng của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Quan niệm về văn bản quy phạm pháp luật: Ở Việt Nam, khái niệm văn bản quy phạm pháp luật xuất hiện chính thức lần đầu tiên tại Điều 1 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996, đến nay, quy định này đã nhiều lần đƣợc sửa đổi, bổ sung, thay thế năm 2015. Theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/6/2015 “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, đƣợc ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này”, Điều 3 chỉ rõ “1. Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, đƣợc áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nƣớc hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm thực hiện. Đối tƣợng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật là cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ việc áp dụng văn bản đó sau khi đƣợc ban hành.” Khái niệm “Công vụ” Ở Việt Nam, công vụ đƣợc xem là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ QLNN, để thi hành pháp luật, đƣa pháp luật vào đời sống và để quản lý, sử dụng có hiệu quả công sản và ngân sách nhà nƣớc phục vụ nhiệm vụ chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc giao cho.
Theo Điều 2, Luật CBCC 2008 của Việt Nam, “hoạt động công vụ của CBCC là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của CBCC theo quy định của Luật này và các quy định khác có liên quan”. Định nghĩa này gắn hoạt động công vụ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng định hƣớng nhằm phục vụ “lợi ích công” và chủ thể nào thực hiện “lợi ích công” đó tức là đang thực thi công vụ. Vì vậy ngƣời thực thi công vụ có mặt trong hầu hết các cơ quan thuộc hệ thống chính trị không phân biệt đặc điểm và tính chất hoạt động. Quan niệm về kết quả thực hiện công việc.
14 Kết quả là mức độ hoàn thành công việc theo những tiêu chuẩn/mục tiêu/kế hoạch đã định. Điều đó đƣợc thể hiện bằng một sản phẩm hoặc một sự thay đổi nhất định có tác dụng đem lại lợi ích hoặc góp phần tạo ra lợi ích trong quá trình thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. “Kết quả là một sự thay đổi có thể mô tả đƣợc hoặc đo lƣờng đƣợc, là hệ quả từ một mối quan hệ nhân quả” [27]. Kết quả thể hiện những thay đổi trong khoảng thời gian từ khi hoàn thành đầu ra cho đến khi đạt đƣợc mục đích.
Trong khu vực công, kết quả là sản phẩm phản ánh quá trình ngƣời công chức thực hiện công việc. Tuy nhiên, không giống với khu vực tƣ, kết quả thực hiện công việc bao gồm cả kết quả về kinh tế và các kết quả về xã hội, các kết quả đó có thể gắn liền với thực hiện các mục tiêu của hệ thống chính trị. Do đó, không phải với mọi kết quả của quá trình quản lý đều xác định đƣợc một cách chính xác tuyệt đối các chi phí và nỗ lực.