Chương 1 : Tổng quan cơ sở lý luận. Chương 2 : Thực trạng chuỗi cung ứng của cửa hàng tiện lợi Circle K tại Việt Nam. Chương 3 : Đánh giá và đề xuất hoàn thiện chuỗi cung ứng của Circle K tại thị trường Việt Nam. Luan van Chƣơng 1.
TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái quát chung về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng toàn cầu 1. Lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng toàn cầu Tiền thân của chuỗi cung ứng được bắt đầu vào thế kỷ 20, khi vi c thiết kế và phát triển sản ph m trên thế giới di n ra vô cùng chạ m chạp và bị l thuọ c gần như hoàn toàn vào hai yếu tố : nguồn lực nọ i bộ và công suất làm việc. Khi đó khái niệm “tồn kho” chỉ được biết tới là bước đệm trong quá trình sản xuất nhằm mục đích làm cho máy móc vạ n hành thông suốt và góp phần vào quy trình cân đối dòng nguyên vạ t li u, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất ta ng cao.
Vào những năm 1950, Forrester và nhiều cộng sự tại viện Massachusets đã nghiên cứu về dòng chảy hàng hoá từ nhà cung cấp đến người tiêu dùng và các mối quan hệ liên quan trong quy trình này. Cho đến thạ p niên 60 của thế kỷ 20, các công ty lớn trên thế giới phát hiện ra “công ngh sản xuất hàng loạt”, bước đầu đã cắt giảm được chi phí và cải thiện na ng suất lao động, tiếp sau đó phần mềm quản lý kho ra đời vì vậy công tác quản lý đã phần nào giảm bớt những cách thức thủ công, nhưng họ lại không chú ý đến các mối quan hệ của toàn bộ quá trình nên vẫn chưa cải thi n vi c thiết kế tổng quát cũng như tính linh hoạt, hay chất lu ợng của sản ph m. Trong thạ p niên 70, khi các nhà sản xuất nhạ n thức được tác đọ ng của mức đọ tồn kho cao sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và chi phí lu u giữ tồn kho, h thống hoạch định nhu cầu nguyên vạ t li u (MRP) và h thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII) ra đời, giải quyết được vấn đề trên. Theo đó, cũng trong thập niên này, các kỹ sư điện toán trên khắp nước Mỹ đã liên kết máy tính của họ với nhau, mở rộng mạng máy tính và được biết đến như là Internet, các chuyên gia đã áp dụng sử dụng công nghệ này làm gia ta ng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho đã làm giảm đáng kể chi phí tồn kho, cải thi n truyền thông nọ i bọ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng nhu trong việc tìm nguồn cung cấp.
Những h thống này giúp các doanh nghi p nhạ n thấy đu ợc tầm quan trọng của quản trị nguye n vạ t li u thông qua các phần mềm công nghệ. Thạ p niên 1980 đu ợc xem nhu là thời kỳ đánh dấu sự ra đời của quản trị chuỗi cung ứng. Thuạ t ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên được sử dụng Luan van mọ t cách rọ ng rãi trên nhiều tờ báo (O.Webber, “Supply- Chain Management : Logistics Catches Up with Strategy,” Outlook - 1982). Từ khi “quản trị chuỗi cung ứng” xuất hiện trên toàn cầu, thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên khốc liệt hơn bao giờ, điều này vô tình ga y áp lực đến các nhà sản xuất, buộc họ phải cắt giảm chi phí, nhưng chất lu ợng sản ph m vẫn phải được nâng cao, và chú trọng vào vi c gia ta ng mức đọ phục vụ khách hàng.
Các thuật ngữ trong quản trị chuỗi cung ứng lần lượt ra đời. Các hãng sản xuất trên toàn cầu bắt đầu vạ n dụng JIT (đúng sản ph m-đúng nơi-đúng số lượng-đúng thời điểm) và chiến lu ợc quản trị chất lu ợng toàn di n (TQM) nhằm cải tiến chất lu ợng, na ng cao hi u quả sản xuất và thời gian giao hàng. Trong mo i tru ờng sản xuất JIT với vi c sử dụng ít tồn kho làm đ m cho lịch trình sản xuất, các doanh nghi p bắt đầu nhạ n thấy lợi ích tiềm năng và tầm quan trọng của mối quan h chiến lu ợc giữa sự hợp tác của nhà cung cấp - ngu ời mua - khách hàng. Bắt đầu từ thạ p niên 90 của thế kỷ 20, sự phát triển của mạng lưới internet phát triển không ngừng và bùng nổ mạnh mẽ, tạo nên khuynh hu ớng toàn cầu hóa nền kinh tế, tạo ra nhiều thách thức dẫn đến việc phải cải thi n chất lu ợng, hi u quả sản xuất, chất lượng dịch vụ khách hàng, hay ngay cả trong việc thiết kế và phát triển sản ph m mới liên tục.
Để giải quyết những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản ph m được lựa chọn từ nhà cung cấp có chất lu ợng cao, có danh tiếng và đã được chứng thực trên thị trường. Mạ t khác, các doanh nghiệp nhạ n thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho để phục vụ cho hoạt đọ ng kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hu ởng những lợi ích từ vi c gia ta ng doanh số thông qua sự cải thiện chất lu ợng, phân phối và thiết kế sản ph m cũng nhu cắt giảm chi phí nhờ vào vi c quan tâm nhiều hơn đến tiến trình, nguyên vạ t li u và các linh ki n đu ợc sử dụng trong hoạt đọ ng sản xuất. Từ đây, nhiều lie n minh giữa nhà cung cấp và ngu ời mua đã được thành lập, chứng tỏ sự thành co ng của mình trên thế giới. Khái niệm “Tái thiết kế quy trình kinh doanh (BPR)” xuất hiện tác động đến doanh nghiệp phải suy nghĩ mọ t cách tri t để và tái thiết kế quy trình kinh doanh nhằm giảm các lãng phí và gia ta ng thành tích đu ợc giới thi u vào đầu thạ p nie n 1990, là kết Luan van quả của những nghiên cứu to lớn trong suốt giai đoạn này với mục đích cắt giảm chi phí và nhấn mạnh đến những na ng lực then chốt của doanh nghi p nhằm đạt đu ợc lợi thế cạnh tranh dài hạn.
Khi xu hu ớng này mất dần vào giữa cuối thạ p nie n 1990 (thuạ t ngữ trở ne n đồng nghĩa với vi c thu h p quy mo ), quản trị chuỗi cung cấp trở ne n phổ quát ho n nhu là nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh nghi p. Cũng trong thời gian này, các nhà quản trị, nhà tu vấn, các học giả hàn la m, và doanh nghiệp bắt đầu nhạ n thức sa u sắc ho n sự khác bi t giữa hạ u cần và quản trị chuỗi cung ứng. Mãi cho đến thời điểm đó thì quản trị chuỗi cung cấp mới đu ợc nhìn nhạ n nhu là một hoạt đọ ng hạ u cần be n ngoài doanh nghi p. Khi các doanh nghi p bắt đầu ứng dụng các sáng kiến của quản trị chuỗi cung ứng vào thực tế, họ bắt đầu hiểu đu ợc sự cần thiết phải tích hợp tất cả các quy trình kinh doanh then chốt có liên quan giữa các be n tham gia trong chuỗi cung ứng, cho ph p chuỗi cung ứng vạ n hành và phản ứng nhu mọ t thể thống nhất.
Ngày nay, hoạt động hạ u cần hay phân phối đu ợc xem nhu là mọ t thành tố quan trọng của khái ni m quản trị chuỗi cung ứng. Cùng thời điểm đó, các doanh nghi p cũng nhạ n thấy lợi ích trong vi c tạo ra các lie n minh hoạ c sự cọ ng tác với khách hàng của mình, việc phát triển mối quan h mạ t thiết và dài hạn với khách hàng sẽ cho ph p doanh nghi p giữ ít tồn kho, cắt giảm được chi phí. Doanh nghi p sẽ tạ p trung nguồn lực vào hoạt động cung ứng các sản ph m hoạ c dịch vụ tốt ho n cho khách hàng. Điều này sẽ giúp thị phần đối với sản ph m dịch vụ đu ợc cải thi n và na ng cao hiệu quả hoạt đọ ng kinh doanh của doanh nghi p.
Ngày nay, theo thực tế của nhiều doanh nghiệp, quản trị chuỗi cung ứng được chia thành 2 cấp : quản trị chuỗi cung ứng và thu mua nhấn mạnh đến khách hàng co ng nghi p hoạ c khách hàng tổ chức; và vạ n tải và hạ u cần nhấn mạnh vào hoạt động phân phối bán sỉ hoặc bán lẻ. Mức đọ phổ biến của các lie n minh với nhà cung cấp và khách hàng (nhà cung cấp của nhà cung cấp và khách hàng của khách hàng) vào cuối thạ p nie n 1990 và tiếp tục được phát triển cho đến ngày nay. Việc xa y dựng mối quan h đối với nhiều nhà cung cấp dịch vụ thứ ba hoạ c các doanh nghi p sử dụng doanh nghiệp trung gian để đảm bảo vi c cung ứng lie n tục và kho ng bị gián Luan van đoạn hàng hóa ngày một nhiều. Sự cần thiết phải đánh giá hi u suất và thành tích của mối quan h này theo từng giai đoạn cũng đồng hành với sự phát triển của quản trị chuỗi cung cấp.
Mọ t trong những thách thức mà nhiều doanh nghi p đối di n hi n nay lie n quan đến quản trị chuỗi cung cấp chính là cách thức đánh giá đầy đủ hi u suất toàn di n trong mọ t chuỗi cung cấp toàn cầu. Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ 20, bởi vậy có rất nhiều tài liệu viết về khái niệm này. Mọ t khái ni m về chuỗi cung ứng của Christopher (1992) đu ợc phát biểu nhu sau: “Mọ t mạng lu ới các tổ chức có mối quan h chặt chẽ với nhau tho ng qua các lie n kết tre n và lie n kết du ới, bao gồm các quá trình và hoạt đọ ng khác nhau để tạo giá trị gia ta ng cho sản ph m hoạ c dịch vụ đến tay ngu ời tie u dùng cuối cùng” Du ới góc đọ D.Pagh (1998), “Chuỗi cung ứng kho ng chỉ là mọ t chuỗi của các doanh nghi p với nhau mà nó còn là mối quan h thu o ng mại giữa doanh nghi p với doanh nghi p hay quan h giữa các doanh nghi p với nhau”. Theo Beamon (1999), chuỗi cung ứng là quá trình tích hợp trong đó nguye n vạ t li u đu ợc sản xuất thành sản ph m cuối cùng và giao cho khách hàng tho ng qua các h thống pha n phối, bán lẻ hoạ c cả hai.