Tổng quan nghiên cứu

Tài nguyên nước mặt giữ vai trò quyết định đối với an ninh sinh thái và sự phát triển kinh tế xã hội bền vững tại các địa phương miền núi. Sông Ba Chẽ là trục thủy văn huyết mạch dài hơn 80 km, chảy xuyên suốt huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh với tổng trữ lượng nước đạt 893,6 triệu m3/năm. Trong đó, lượng nước mặt có khả năng khai thác, sử dụng lên tới 797,4 triệu m3/năm, phân bổ cho sinh hoạt, công nghiệp và nông nghiệp của 22.342 cư dân sinh sống trên diện tích tự nhiên 60.855,56 ha. Hiện tại, Nhà máy nước Ba Chẽ đang khai thác nguồn nước sông này với công suất vận hành thực tế 700 m3/ngày đêm trên tổng công suất thiết kế 1.200 m3/ngày đêm.

Theo Quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh, nhà máy nước dự kiến nâng công suất lên 3.000 m3/ngày đêm vào năm 2020 và 6.000 m3/ngày đêm trong giai đoạn 2020-2030, kết hợp dự án đập dâng Thác Trúc khai thác 55.000 m3/ngày đêm. Tuy nhiên, kết quả quan trắc thực tế cho thấy nước sông đang đối mặt với nguy cơ gia tăng ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng do nước thải chế biến lâm sản, hoạt động canh tác nông nghiệp và vận tải thủy.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hệ thống và chi tiết diễn biến chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ giai đoạn 2015-2019, đồng thời ứng dụng bộ chỉ số chất lượng nước Việt Nam để lượng hóa mức độ an toàn của nguồn nước. Trên cơ sở đó, luận văn xác lập các cơ sở khoa học để hoạch định giải pháp bảo vệ lưu vực sông, đáp ứng mục tiêu đạt chuẩn cột A2 và B1 theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết tập hợp mờ của Lotfi Zadeh trong đánh giá toàn diện môi trường và lý thuyết chỉ số chất lượng nước do Quỹ Vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ cùng Hội đồng Bộ trưởng Môi trường Canada phát triển. Khung lý thuyết này kết hợp mô hình tính toán chỉ số chất lượng nước Việt Nam theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường nhằm chuyển đổi các thông số lý hóa phức tạp thành thang điểm định lượng từ 10 đến 100 điểm.

Ba khái niệm học thuật then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: Nước mặt lục địa phục vụ mục đích cấp nước sinh hoạt, Nhu cầu oxy sinh hóa và Nhu cầu oxy hóa học phản ánh mức độ ô nhiễm hữu cơ. Hệ thống đánh giá xếp hạng chất lượng nước thành 6 mức rõ rệt: Rất tốt (91-100 điểm), Tốt (76-90 điểm), Trung bình (51-75 điểm), Kém (26-50 điểm), Ô nhiễm nặng (10-25 điểm) và Ô nhiễm rất nặng (dưới 10 điểm).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kế thừa chuỗi dữ liệu quan trắc định kỳ hàng quý từ năm 2015 đến năm 2019 tại 02 vị trí trọng yếu theo Quyết định 1927/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Nhằm hoàn thiện bức tranh môi trường, tác giả tiến hành khảo sát thực địa và thiết lập mạng lưới quan trắc bổ sung gồm 06 trạm mẫu (ký hiệu từ NM1 đến NM6) phân bố dọc 80 km chiều dài dòng sông trong 4 quý năm 2019, tạo nên tập dữ liệu tổng cộng 24 mẫu nước mặt.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng dựa trên đặc điểm thủy văn, các điểm hợp lưu nhánh sông chính và phân bố nguồn thải công nghiệp. Các trạm quan trắc đại diện cho khu vực thượng nguồn xã Minh Cầm (NM1), khu vực trung lưu tiếp nhận nhánh sông Làng Cổng và điểm lấy nước sinh hoạt (NM2, NM3, NM4), cùng khu vực hạ lưu chịu ảnh hưởng của Cụm công nghiệp Nam Sơn và cửa biển ven bờ Đồng Rui (NM5, NM6). Mẫu nước được thu thập và bảo quản theo tiêu chuẩn TCVN 6663-1:2011, phân tích 13 thông số đặc trưng bao gồm nhiệt độ, pH, DO, COD, BOD5, N-NH4, P-PO4, Coliform, E.coli và các kim loại nặng như As, Hg, Pb, Cd tại phòng thí nghiệm đạt chuẩn VIMCERTS. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm chuyên dụng và đối chiếu trực tiếp với QCVN 08-MT:2015/BTNMT.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích chuỗi số liệu 5 năm và đợt quan trắc chuyên sâu năm 2019 mang lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, các thông số môi trường cơ bản như pH và hàm lượng oxy hòa tan duy trì trạng thái tương đối ổn định. Giá trị pH tại các điểm dao động từ 6,8 đến 7,8, nằm hoàn toàn trong ngưỡng cho phép cột A2. Nồng độ DO tại trạm lấy nước của Nhà máy nước Ba Chẽ luôn đạt mức an toàn trên 5,0 mg/l, trong khi khu vực hạ lưu Cụm công nghiệp Nam Sơn có xu hướng tăng từ 5,2 mg/l lên khoảng 6,4 mg/l trong giai đoạn 2017-2019.

Thứ hai, nồng độ chất hữu cơ tại trạm thu nước sinh hoạt NM4 có chiều hướng gia tăng đáng kể. Giá trị BOD5 và COD trong năm 2019 cao hơn khoảng 15% đến 25% so với mức trung bình giai đoạn 2015-2017. Mặc dù vẫn nằm trong ngưỡng giới hạn cột A2, sự gia tăng này cảnh báo nguy cơ suy giảm chất lượng nước cấp đầu vào trong tương lai gần.

Thứ ba, môi trường nước tại hạ lưu Cụm công nghiệp Nam Sơn (NM5) ghi nhận sự cải thiện rõ nét từ cuối năm 2018. Trước năm 2018, các chỉ số BOD5 và COD thường xuyên vượt cột A2 do tiếp nhận nguồn thải trực tiếp từ các xưởng chế biến gỗ và sản xuất giấy. Từ sau khi trạm xử lý nước thải tập trung công suất 2.000 m3/ngày đêm vận hành vào quý 3/2018, nồng độ BOD5 và COD tại đây giảm mạnh từ 20% đến 30%, đáp ứng mục tiêu cột B1 theo quy hoạch.

Thứ tư, chỉ số chất lượng nước VN_WQI năm 2019 có sự phân hóa không gian rõ rệt. Khu vực thượng nguồn NM1 đạt chất lượng rất tốt với WQI trung bình trên 88 điểm. Trạm cấp nước NM4 đạt mức tốt với WQI dao động từ 78 đến 86 điểm, trong khi khu vực tiếp nhận nhiều nguồn thải NM3 và NM5 chỉ đạt mức trung bình với WQI từ 62 đến 74 điểm.

Thảo luận kết quả

Diễn biến chất lượng nước sông Ba Chẽ chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi cấu trúc kinh tế và các hoạt động xả thải dọc lưu vực. Ô nhiễm hữu cơ cục bộ bắt nguồn từ hoạt động của các cơ sở chế biến lâm sản chưa có hệ thống xử lý nước thải triệt để. Điển hình như các cơ sở sản xuất gỗ và trích ly lâm sản ngoài gỗ ghi nhận nước thải có COD lên tới 150 - 164 mg/l và Coliform đạt 2.550 - 2.900 MPN/100ml. Thêm vào đó, lưu vực sông gánh chịu áp lực từ nguồn ô nhiễm diện nông nghiệp với 4.755 tấn phân bón hóa học và khoảng 24 tấn thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng hàng năm trên 1.675 ha đất canh tác.

Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Trung Ngọc (2012) trên sông Cầm và Nguyễn Quang Toàn (2014) trên sông Diễn Vọng, khi chỉ ra rằng chất lượng nước mặt tại Quảng Ninh chịu biến động lớn theo mùa và áp lực công nghiệp hóa cục bộ. Các dữ liệu phân tích có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng tăng dần của tải lượng chất hữu cơ tại trạm thu nước, cũng như bảng đối chiếu đa biến giữa giá trị VN_WQI và lưu lượng nước thải xả vào hạ lưu.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát ô nhiễm và đảm bảo mục tiêu cấp nước cho huyện Ba Chẽ:

Một là, thiết lập hệ thống quan trắc tự động và mở rộng mạng lưới giám sát. Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ phối hợp cùng Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh tiến hành lắp đặt 02 trạm quan trắc tự động liên tục tại vị trí thu nước của Nhà máy nước Ba Chẽ và hạ lưu Cụm công nghiệp Nam Sơn trước năm 2022. Hệ thống này đảm bảo giám sát 24/7 các chỉ số DO, pH, COD, TSS nhằm phát hiện sự cố ô nhiễm kịp thời.

Hai là, kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý triệt để nước thải công nghiệp. Cơ quan chức năng yêu cầu 100% doanh nghiệp sản xuất dăm gỗ, giấy và chế biến nông lâm sản phải đấu nối vào trạm xử lý nước thải tập trung 2.000 m3/ngày đêm của Cụm công nghiệp Nam Sơn hoặc tự xây dựng hệ thống xử lý đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT cột A trước năm 2023, hướng tới mục tiêu giảm 35% tải lượng COD xả vào lưu vực.

Ba là, áp dụng các công cụ kinh tế môi trường và cơ chế ký quỹ. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Chẽ triển khai thu phí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở xả thải, xử phạt nghiêm các đơn vị vi phạm nồng độ Coliform vượt 1.000 MPN/100ml. Nguồn kinh phí thu được sẽ tái đầu tư xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt công suất 1.500 m3/ngày đêm cho đô thị thị trấn Ba Chẽ giai đoạn 2021-2025.

Bốn là, chuyển đổi mô hình canh tác nông nghiệp sinh thái. Ủy ban nhân dân các xã dọc sông phát động chương trình giảm 30% lượng phân bón vô cơ và 50% thuốc bảo vệ thực vật hóa học thông qua mô hình canh tác VietGAP, kết hợp trồng rừng gỗ lớn trên 235 ha giai đoạn 2020-2025 để duy trì thảm phủ rừng trên 71,2%, hạn chế xói mòn và rửa trôi chất ô nhiễm vào nguồn nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Ủy ban nhân dân huyện Ba Chẽ. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để xây dựng kế hoạch phân vùng xả thải và thẩm định dự án đập dâng Thác Trúc công suất 55.000 m3/ngày đêm.

Nhóm thứ hai là ban quản lý các cụm công nghiệp và doanh nghiệp sản xuất dọc lưu vực sông Ba Chẽ. Tài liệu này giúp các nhà quản lý doanh nghiệp đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải 2.000 m3/ngày đêm và thiết lập phương án kiểm soát phát thải đạt tiêu chuẩn xả thải cột A.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Thủy văn. Công trình cung cấp quy trình tính toán mẫu về chỉ số VN_WQI theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT và phương pháp thiết lập mạng lưới quan trắc lưu vực sông miền núi.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phát triển cộng đồng và người dân địa phương. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quan trọng giúp nâng cao nhận thức bảo vệ nguồn nước sinh hoạt và bảo tồn các loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế cao như Cà ra và tôm sông Ba Chẽ.

Câu hỏi thường gặp

  1. Mục tiêu chất lượng nước sông Ba Chẽ được phân vùng quy hoạch như thế nào trong giai đoạn 2020-2030? Theo Quy hoạch Tài nguyên nước tỉnh Quảng Ninh tại Quyết định 4358/QĐ-UBND, đoạn từ thượng nguồn xã Lương Mông đến đập dâng Ba Chẽ được quy hoạch đạt chất lượng cột A2 để cấp nước sinh hoạt và công nghiệp. Đoạn từ sau đập dâng Ba Chẽ đổ ra biển được quy hoạch theo cột B1 phục vụ tưới tiêu nông nghiệp và giao thông thủy.

  2. Chỉ số chất lượng nước VN_WQI trong luận văn được tính toán dựa trên cơ sở pháp lý nào? Chỉ số VN_WQI được tính toán theo Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019 của Tổng cục Môi trường. Phương pháp này sử dụng thang điểm từ 10 đến 100 điểm, đánh giá tích hợp thông qua 13 thông số lý hóa và vi sinh nhằm cung cấp bức tranh định lượng trực quan về chất lượng nước.

  3. Trạm xử lý nước thải Cụm công nghiệp Nam Sơn đã mang lại hiệu quả gì cho môi trường sông? Trạm xử lý nước thải tập trung với công suất thiết kế 2.000 m3/ngày đêm được đưa vào vận hành từ quý 3 năm 2018. Công trình đã giúp giảm nồng độ BOD5 và COD tại trạm quan trắc NM5 từ 20% đến 30% trong năm 2019, đưa chất lượng nước hạ lưu về mức an toàn theo quy chuẩn.

  4. Nguồn thải nông nghiệp tác động như thế nào đến lưu vực sông Ba Chẽ? Hoạt động nông nghiệp trên 1.675 ha đất canh tác tiêu thụ khoảng 4.755 tấn phân bón và 24 tấn thuốc bảo vệ thực vật mỗi năm. Lượng hóa chất dư thừa này theo dòng chảy mặt ngấm trực tiếp vào sông, gây nguy cơ tích tụ nitơ, phospho và làm gia tăng chất ô nhiễm hữu cơ dạng diện.

  5. Những loài thủy sản đặc hữu nào của sông Ba Chẽ chịu ảnh hưởng từ chất lượng nước? Hệ sinh thái sông Ba Chẽ sở hữu hai loài thủy sản đặc hữu có giá trị kinh tế cao là con Cà ra và tôm sông Ba Chẽ. Các loài này rất nhạy cảm với sự biến động môi trường và chỉ sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ tự nhiên ít bị ô nhiễm bởi kim loại nặng và hóa chất độc hại.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước mặt sông Ba Chẽ dài hơn 80 km thông qua chuỗi số liệu 5 năm (2015-2019) kết hợp 6 điểm quan trắc bổ sung năm 2019.
  • Xác định chất lượng nước thượng nguồn đạt mức rất tốt (WQI trên 88 điểm), trong khi trạm thu nước cấp NM4 duy trì mức tốt nhưng có dấu hiệu gia tăng 15% - 25% nồng độ chất hữu cơ.
  • Chứng minh hiệu quả rõ rệt của trạm xử lý nước thải tập trung 2.000 m3/ngày đêm tại Cụm công nghiệp Nam Sơn trong việc giảm tải lượng ô nhiễm hữu cơ vùng hạ lưu.
  • Ứng dụng thành công phương pháp tính toán VN_WQI theo Quyết định 1460/QĐ-TCMT, tạo lập cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ quản lý môi trường lưu vực sông.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, kinh tế và thể chế đồng bộ nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước sạch với công suất quy hoạch 6.000 m3/ngày đêm giai đoạn 2020-2030.

Công trình là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác bảo vệ môi trường nước mặt tại các lưu vực sông miền núi. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng nghiên cứu hãy cùng khai thác và ứng dụng kết quả của luận văn để chung tay bảo vệ nguồn tài nguyên nước quý giá của tỉnh Quảng Ninh.