MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng nền tảng cho sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người đều bắt nguồn từ đất đai. Đất đai là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia, là một tư liệu sản xuất đặc biệt, đất đai cung cấp nguồn nước cho sự sống, cung cấp nguồn nguyên vật liệu và khoáng sản, là không gian của sự sống đồng thời bảo tồn sự sống. Đất đai là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, cha ông ta đã tốn nhiều công sức và xương máu để tạo lập vốn đất đai như hiện nay. Để tiếp tục sự nghiệp khai thác và bảo vệ toàn bộ quỹ đất tốt hơn có hiệu quả hơn, Đảng và nhà nước ta đã ban hành các văn bản luật phục vụ cho công tác quản lý có hiệu quả. Luật Đất Đai 1987, 1993, luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001, Luật Đất Đai 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất Đai đang từng bước đi sâu vào thực tiễn. Nhà nước giao trách nhiệm cho ngành Tài nguyên và Môi trường (TN và MT) phối hợp cùng các cấp, ban ngành chính quyền địa phương thực hiện hàng loạt các biện pháp như đo đạc, phân hạng, đánh giá đất đai, lập quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CGCNQSD đất).
Hiện nay nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng do dân số tăng, kinh tế phát triển đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đang diễn ra mạnh mẽ mà đất đai thì có hạn về diện tích. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý nghĩa hết sức quan trọng, và nó là chứng thư pháp cao nhất xác định mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và chủ sử dụng đất, để chủ sử dụng đất yên tâm sản xuất, đầu tư, khai thác tốt tiềm năng và chấp hành tốt Luật Đất Đai, đồng thời Nhà nước cũng quản lý chặt chẽ được nguồn tài nguyên đất đai của mình đến từng chủ sử dụng. Từ đó lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý và hiệu quả. e 2 Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Quản lí Tài nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Thầy giáo PGS.
Nguyễn Khắc Thái Sơn em tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 6/2014”. Mục đích của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhắm góp phần làm tăng tiến độ công tác cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất, đẩm bảo các quyền của người sử dụng, cũng như công tác quản lí Đất đai trên địa bàn xã. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu hiện trạng và công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã Văn Nho giai đoạn 2010 – 6/2014.
- Nghiên cứu tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của xã Văn Nho giai đoạn 2010 – 6/2014. - Đánh giá sự hiểu biết của người dân về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Yêu cầu của đề tài - Số liệu tài liệu thu thập phải khách, trung thực phản ánh đúng hiện trạng. - Nắm chắc Luật đất đai và các nội dung liên quan.
- Giải pháp đưa ra phải phù hợp với địa phương và có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong Nhà trường và bước đầu áp dụng vào thực tiễn phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường. e 3 - Ý nghĩa thực tiễn: Đáp ứng được vấn đề cấp bách của xã Văn Nho, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giúp UBND xã Văn Nho tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai. e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2. Cơ sở lý luận của công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý xác lập mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước với người sử dụng đất. Đây là yếu tố góp phần quan trọng vào việc nắm chắc quỹ đất của địa phương, giúp cho việc quy hoạch sử dụng hợp lý từng loại đất, tạo điều kiện cho việc nâng cao hiệu quả sản xuất. Việc đăng ký đất đai, GCNQSDĐ góp phần hoàn thiện hồ sơ địa chính, giúp cho việc nắm chắc quỹ đất cả về số lượng và chất lượng.
Vì vậy việc cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người dân là hết sức cần thiết bởi nó đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người dân và giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai được hiệu quả hơn. Ngày nay kinh tế xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp. Vì vậy để sử dụng đất đai một cách khoa học, tiết kiệm mang lại hiệu quả cao nhất thì Nhà nước phải có một chế độ chính sách về đất đai mang tính pháp lý, song phải hợp lý và chặt chẽ nhằm quản lý toàn bộ quỹ đất. Để công tác quản lý cũng như vấn đề sử dụng đất đai mang lại hiệu quả cao nhất tại khoản 2 Điều 6 (Luật đất đai, năm 2003) [6] đã đề ra 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai bao gồm: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai.
Quản lý tài chính về đất đai. Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất. Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai. Thông qua 13 nội dung quản lý nhà nước về đất đai thì nội dung công tác đăng ký cấp GCNQSD đất là cơ sở để xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa nhà nước và người sử dụng đất. Đây là cơ sở để nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sử dụng đất.
Mặt khác cũng thông qua hoạt động này mà nhà nước thực hiện quyền giám sát tình hình sử dụng đất đai của các chủ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo e 6 cho việc sử dụng đất của các chủ sử dụng trên từng thửa đất tuân thủ theo đúng nề nếp kỷ cương pháp luật, tạo điều kiện để nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật. Điều mà chúng ta có thể thấy trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, thì hoạt động đăng ký cấp GCNQSDĐ có một vai trò hết sức quan trọng và đây là một trong những hoạt động nắm chắc tình hình về đất đai. Chính vì vậy thông qua hoạt động này chúng ta sẽ xác định và biết được thông tin của từng thửa đất và là cơ sở để quản lý các thông tin về đất đai trong hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin tự nhiên, kinh tế – xã hội, tình trạng pháp lý của từng thửa đất.
Hệ thống các thông tin đó chính là sản phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai. Đồng thời đây cũng là nội dung tiền đề và hướng tới hoàn thiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai khác như: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất, điều tra đo đạc, khảo sát, phân hạng, định giá đất, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai… Thông qua nội dung này quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được đảm bảo. Muốn nắm chắc được tình hình sử dụng, số lượng, chất lượng của toàn bộ quỹ đất thì chúng ta phải làm tốt công tác đăng ký cấp GCNQSDĐ từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở. Điều kiện được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất * Có đầy đủ giấy tờ hợp pháp hoặc đang sử dụng đất ổn định được ủy ban nhân dân (UBND) nơi có đất xác nhận.
Những giấy tờ hợp pháp bao gồm: - Giấy tờ do chính quyền hợp pháp giao đất trong cải cách ruộng đất mà chủ sử dụng vẫn đang sử dụng ổn định từ đó đến nay. - Giấy tờ giao đất hoặc cho sử dụng đất do cơ quan nhà nước có thẩm quyền duyệt thuộc thời kỳ Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ e 7 nghĩa Việt Nam, trong quá trình thực hiện các chính sách về đất đai mà người sử dụng đất vẫn đang sử dụng từ đó đến nay. - Những giấy tờ chuyển nhượng từ năm 1980 trở về trước của chủ sử dụng đất hợp pháp được chính quyền địa phương khi chuyển nhượng xác nhận. - Những giấy tờ chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế quyền sử dụng đất từ sau ngày 15 tháng 10 năm 1993 đã được cấp có thẩm quyền xác nhận.
- Các quyết định giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo các quy định của pháp Luật Đất đai. - GCNQSDĐ tạm thời do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ địa chính mà không có tranh chấp.