Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên sẵn có mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người, vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Có vai trò quan trọng hàng đầu của môi trường sống, mọi hoạt động kinh tế - xã hội của con người, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng điều đó thể hiện rõ tầm quan trọng của đất đai trong cuộc sống xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn, không thể tái tạo được, có vị trí cố định trong không gian, không thể di chuyển theo ý muốn chủ quan của con người nhưng lại vô hạn về mặt thời gian nếu sử dụng hợp lý, cải tạo bồi bổ thường xuyên thì giá trị mà đất mang lại càng tăng, đối với mỗi quốc gia nếu xét về mặt diện tích thì nó bị giới hạn bởi đường biên giới giữa các quốc gia, là vấn đề liên quan đến tình hình ổn định chính trị, kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận vấn đề đất đai vào hiến pháp của nhà nước mình nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng đất đai có hiệu quả.
Trong khi đó dân số nước ta ngày càng tăng nhưng diện tích lại có hạn. Do đó diện tích bình quân đất/đầu người ngày càng giảm, đặc biệt là nhu cầu về đất ở. Qua nhiều thời kỳ khác nhau do chính sách mở cửa nền kinh tế. Việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước dẫn đến việc xây dựng các cơ sở hạ tầng diễn ra ồ ạt.
Cùng với nó là nhu cầu sử dụng đất cho các hoạt động : Nhà ở, kinh doanh, dịch vụ ngày càng phát triển dẫn đến đã gây sức ép lớn lên quỹ đất hiện có. Các hiện tượng tranh chấp đất đai xảy ra ngày càng nhiều, vấn đề giao đất, cho thuê đất, lấn chiếm đất đai, sử dụng đất đai sai mục đích, trái thẩm quyền diễn ra phổ biến, việc sử dụng đất lãng phí, thiếu tính khoa học và đồng bộ xảy ra ở hầu hết các địa phương. 1 n Yêu cầu của nhà nước về công tác quản lý đất đai đòi hòi phải có các biên pháp đo đạc, đánh giá phân hạng đất đai, qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính. Vì vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là công việc hết sức khó khăn, phức tạp và tốn kém.
Để giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở thành cơ sở pháp lý của việc sử dụng đât, nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản về hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật đất đai năm 2003 [12]( được sửa đổi năm 2013) ra đời thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thông qua việc đưa vào luật những nội dung mới, sửa đổi bổ sung các điều luật không còn phù hợp với tình hình mới. Nhằm đưa ra một hệ thống pháp luật , là hành lang pháp lý đáp ứng công tác quản lý đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.
Một nội dung quan trọng trong 13 nội dung quản lý đất đai là: “Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” (viết tắt là cấp GCNQSDĐ). Ý nghĩa của nội dung này được thể hiện qua việc nó đã xác lập được mối quan hệ giữa nhà nước và người sử dụng, là chứng cứ pháp lý, là căn cứ quan trọng và là cơ sở để người sử dụng đất được tham khảo khi khai thác, sử dụng và bảo vệ đất, cũng như việc đầu tư kinh doanh vào đất. Điều này đã khiến người sử dụng đất mạnh dạn đầu tư trên mảnh đất của mình, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng đât. Đồng thời nhà nước cũng dễ dàng trong việc quản lý đất đai.
Phường Thịnh Đán là một trong các phường trung tâm thành phố Thái Nguyên. Đây là phường có diện tích tương đối rộng, một địa bàn có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tương đối đặc thù và tỉ lệ đô thị hóa khá cao. Việc cấp GCNQSDĐ của Phường Thịnh Đán trong thời gian qua đã có nhiều thành tựu đáng kể. Nhưng vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn, thách thức nảy sinh cần giải quyết.
Để có cách giải quyết thích hợp với những khó khăn trên đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận lại công tác cấp GCNQSDĐ 2 n từ cấp phường. Từ đó tìm ra các giải quyết đúng đắn và triệt để với tình hình địa phương. Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý, nhất trí của ban chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên trường Đại học Nông Lâm - Thái Nguyên. Với sự giúp đỡ của T.S Nguyễn Thị Lợi, tôi tiến hành xây dựng và triển khai nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phườngThịnh Đán – TP.Thái Nguyên giai đoạn 2011-1013”.2 Mục đích nghiên cứu -Tìm hiểu: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường Thịnh Đán - TP.
Thái Nguyên giai đoạn 2011-2013” - Tìm hiểu những mặt thuận lợi khó khăn, những hạn chế tồn tại của phường Thịnh Đán trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, và đưa ra những giải pháp cho giai đoạn tới. Yêu cầu - Nắm vững các quy định trong luật đất đai năm 2003 và các văn bản dưới luật về công tác cấp GCNQSDĐ, các văn bản của ngành và của Thành phố Thái Nguyên về công tác CGCNQSDĐ. - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan trung thực, đúng với những gì đã làm được của công tác cấp GCNQSDĐ. - Phân tích, đánh giá trung thực khách quan đúng hiện trạng những gì đã làm được và chưa làm được của công tác cấp GCNQSDĐ.
- Những đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với thực trạng của địa phương, đáp ứng nhu cầu trong công tác quản lý đất đai của địa phương theo luật hiện hành. Ý nghĩa của đề tài Đối với việc học tập và nghiên cứu: Thực hiện chuyên đề giúp cho sinh viên gắn những lý thuyết đã được trang bị trong nhà trường vào thực tiễn cuộc sống, tập làm quen và chủ động nghiên cứu khoa học, chịu trách 3 n nhiệm trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường đồng thời là cơ hội để sinh viên bước đầu tiếp cận với thực tế nghề nghiệp trong tương lại. Với thực tiễn: Đề tài đánh giá phân tích những thuận lợi khó khăn của công tác cấp GCNQSDĐ từ đó đề xuất những giải pháp thích hợp với thực tế địa phương góp phần hoàn thành công tác trong thời gian tới. Kiến nghị và đề xuất những giải pháp phù hợp cho công tác cấp GCNQSDĐ đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung trên địa bàn Thịnh Đán 4 n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở pháp lý và khoa học của công tác Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 2. Lịch sử của công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - Thời kỳ 1954 - 1960 : Ngày 03/07/1958 chính phủ ban hành chỉ thị 354/CT cho tái hợp hệ thống địa chính trong Bộ Tài Chính. Năm 1959 hiến pháp ra đời khẳng định có ba hình thức sở hữu đất đai: Hình thức sở hữu nhà nước tức là sở hữu toàn dân; hình thức sở hữu hợp tác xã tức là của tập thể, của nhân dân lao động; hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ và hình thức sở hữu của tư sản dân tộc. - Thời kỳ 1960 - 1993: Sau khi thống nhất đất nước , tháng 12/1979 Tổng cục quản lý ruộng đất được thành lập.
Lúc này mọi mặt đời sống xã hội đã khác so với trước năm 1975, nên để đáp ứng tình hình mới quốc hội đã thông qua hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1980 có những quy định khác so với trước đây đó là đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Như vậy, đất đai do nhà nước làm đại diện chủ sở hữu, còn các đối tượng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất chỉ được quyền sử dụng đất đúng mục đích, diện tích đất. Trong giai đoạn này nhiều văn bản pháp quy được ban hành đưa công tác quản lý và sử dụng đất dần đi vào ổn định, chặt chẽ.
Ngày 01/07/1980 Hội Đồng Chính Phủ ban hành quyết định 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Ngày 10/11/1980 thủ tướng chính phủ ban hành chỉ thị 299/TTg về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước. Ngày 29/12/1987 Luật đất đai đầu tiên của nước ta được quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá VIII kỳ họp 5 n thứ II chính thức thông qua ngày 08/01/1988 được công bố bằng lệnh của Chủ tịch nước. - Ngày 14/07/1993 Luật đất đai được quốc hội thông qua thay thế cho Luật đất đai năm 1998.
Sau đó các nghị định, chỉ thị, thông tư, công văn được thủ tướng chính phủ, Tổng cục địa chính ban hành đưa công tác quản lý nhà nước về đất đai tiến một bước dài trong đó có công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính. Ảnh hưởng lớn tới công tác trên là thông tư 346/1998/TT-TCĐC ngày 16/03/1993 và thông tư 1990/2001/TT-TCĐC ngày 30/10/2001 - Ngày 16/11/2003 quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Luật đất đai mới và chính thức có hiệu lực áp dụng ngày 01/07/2004. Sau khi Luật đất đai ra đời hàng loạt các văn bản dưới luật được ban hành để cụ thể hoá Luật đất đai. Ngày 29/10/2011 chính phủ ban hành nghị định 181/NĐ-CP về thi hành Luật đất đai 2003.
Căn cứ vào Luật đất đai 2003, Bộ Tài Nguyên và Môi Trường đã ban hành quyết định 24/2004/QĐ- BTNMT ngày 01/11/2004 quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông tư 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính. Như vậy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cơ bản đã hoàn thành, đất lâm nghiệp, đất ở nông thôn và đất ở đô thị vẫn chưa đạt yêu cầu đã đề ra. Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của đất đai đối với chiến lược phát triển kinh tế xã hội.