Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về bat bình đẳng giới trong thu nhập Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Khuyến nghị và kết luận CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BAT BÌNH DANG GIỚI TRONG THU NHAP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ngoài nước Bài nghiên cứu “The Gender Pay Gap in China: Insights from a Discrimination Perspective” của Wei Bai (2022) cho thay trung bình phụ nữ chi chiếm được 71.5% thu nhập của nam giới ở Trung Quốc. Khoảng cách tiền lương theo giới tính tồn tại ở tất cả các nhóm tuổi và trình độ giáo dục.
Trái ngược với quan điểm phổ biến rằng sự phát triển trong giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ giảm thiểu chênh lệch tiền lương theo giới, bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố đó không làm tăng sự bình đẳng về lương theo giới ở Trung Quốc. Với việc sử dụng phương pháp phân rã Blinder- Oaxaca với các biến giải thích là trình độ học van, số năm làm việc, phân biệt đối xử về giới, bài phân tích cho thấy thêm rằng 81,47% sự khác biệt trong khoảng cách về lương theo g o sự phân biệt đối xử. Đặc biệt, phụ nữ đã kết hôn chịu bất bình đẳng và phân biệt đối xử nhiều hơn so với những người chưa kết hôn. Từ đó bài nghiên cứu đề xuất tăng cường đầu tư vào chính sách và trợ cấp hỗ trợ gia đình bên cạnh giáo dục cho nữ giới.
Maiko Hata (2021) với luận án “Gender Inequality in the Japanese Workplace: Issues Related to the Promotion of Childcare Leave Taken by Men” đã xem xét thực tế về việc nam giới nghỉ phép chăm con ở Nhật Bản ngày nay. Hiện nay ở Nhật Bản, luật lao động nghiêm cắm sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính và phụ nữ có quyền bình đẳng trong tiếp cận giáo dục và cơ hội việc làm. Tuy nhiên, bat bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, điển hình là khoảng cách tiền lương giữa các giới, cụ thé khoảng cách giữa mức lương tháng cao nhất của nam giới và nữ giới là 127.000 yên, lương trung. bình của nhân viên nữ toàn thời gian được trả ít hơn 30% so với lương của nhân viên nam.
Bên cạnh đó, tỷ lệ nam giới nghỉ chăm con TẤt thấp chỉ 7,48% và tỷ lệ nữ ở các vị trí quản lý cũng thấp chỉ 9,8%. Luận án đã làm rõ bối cảnh văn hóa và chính trị xã hội của tình trạng bat bình đăng giới tại nơi làm việc của Nhật Bản. Phụ nữ Nhật Bản không được làm việc 6 các vị trí quyền lực hay lãnh đạo. Sự phân công lao động theo giới truyền thống vẫn còn tồn tại: nam giới làm trụ cột gia đình và nữ là người cham sóc con.
Sự phân biệt về giới trong việc làm và các doanh nghiệp coi trọng nhân viên nam hơn đã cản trở sự phát triển và thăng tiến trong sự nghiệp của phụ nữ. kết quả đó, luận án đã đưa ra các biện pháp với trọng tâm là khuyến khích nhân viên nam nghỉ phép chăm con. Luận án tiến sĩ “The Gender Wage Gap and Women’s Labour Mobility in Newfoundland and Labrador (Canada)” của Sherine Hamdy Khattab (2020) là một nghiên cứu về sự chênh lệch về tiền lương giữa nam và nữ cũng như xem xét khả năng di chuyền lao động của phụ nữ ở Newfoundland và Labrador, một tỉnh của Canada. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các yếu tố gây ra chênh lệch lương giữa nam và nữ, va tác động của nó đến sự di chuyên lao động của phụ nữ.
Luận án đã sử dụng số liệu từ cuộc điều tra dân số Canada năm 2016 và sử dụng phương pháp phân tích Blinder Oaxaca cũng như phân tích khoảng cách tiền lương theo giới. Mô hình thống kê hồi quy sự khác biệt trong tiền lương với biến phụ thuộc. là log của tiền lương so với nhiều biến giải thích khác nhau (trình độ học vấn, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, hình phạt khi làm mẹ) nhằm xác định ảnh hưởng của sự phân biệt đối xử đến khoảng cách lương theo giới. Kết quả, bất bình đăng giới trong tiền lương theo giờ ở Newfoundland and Labrador là do sự khác biệt về trình độ học vấn và sự phân biệt đối xử.
Từ đó, luận án đưa ra lộ trình nhằm cải thiện sự chênh lệch về thu nhập theo giới tính với các chính sách đề xuất đó là: chính sách trợ cấp trẻ em, chính sách hỗ trợ mẹ don thân, chính sách thúc day sự cân bằng giới tính trong công. việc, đến chênh lệch lương và sự di chuyên lao động của phụ nữ. “Chowdhury & cộng sự (2018) trong bài báo cáo “Gender Gap in Earnings in Vietnam: Why Do Vietnamese Women Work in Lower Paid Occupations?” phân tích khoảng cách thu nhập giữa các giới và tìm hiểu lý do tại sao phụ nữ chọn làm việc trong những công việc được trả lương thấp hơn. Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu từ Khảo sát lực lượng lao động Việt Nam (LFS), Khảo sát cuộc sống trẻ và Chương trình đo lường kỹ năng STEP của Ngân hàng Thế giới.
Kết quả cho thấy phụ nữ kiếm được trung bình ít hơn nam giới 3.000 đồng (khoảng 1302 USD) mỗi năm, tức 10 là khoảng một tháng thu nhập. Nam giới kiếm được nhiều tiền hơn phụ nữ cả trong khu vực nhà nước và ngoài nhà nước cũng như trong các ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp. Khoảng cách này không đổi trong suốt 4 năm sử dung dit liệu LFS. Khoảng cách về thu nhập hiện diện ở tất cả các nhóm tuổi, mở rộng ở độ tuổi lập gia đình sinh con va tăng đột biến ở nhóm tuổi 55-59, xung quanh độ tuổi nghỉ hưu của phụ nữ (ở 55).
Nó lại giảm đi khi đàn ông nghỉ hưu ở tuổi 60. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sự khác biệt về trình độ học vấn có thể giải thích một cách hợp lý khoảng cách về thu nhập. Tuy nhiên, ở Việt Nam, phụ nữ kiếm được ít tiền hơn nam giới dù có trình độ học van cao hơn. Đối với phụ nữ và nam giới có cùng trình độ học vấn, khoảng cách về thu nhập càng trở nên lớn hơn.
Phân tích cho thấy phụ nữ sẵn sàng hơn nam giới từ bỏ mức lương cao hơn đề đảm bảo việc làm với số giờ làm hàng tuần, nghỉ phép, bảo hiểm và có hợp đồng tốt hơn. Một yếu tố có thé thúc day sở thích này là sự phân bổ công việc gia đình không đồng đều. Thực tế, phụ nữ ở Việt Nam giành nhiều hơn nam giới 14 giờ mỗi tuần để làm việc nhà và chăm sóc trẻ em hoặc người già. Từ đó, bài phân tích đưa ra các giải pháp khuyến nghị thứ nhất là cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em với giá cả phải chăng và dễ tiếp cận hoặc tạo điều kiện cho các lựa chọn làm việc linh hoạt; thứ hai là các biện pháp can thiệp nhằm khuyến khích phân bổ công bằng hơn gánh nặng công việc và chăm sóc gia đình - chang hạn như các sáng kiến lập pháp hoặc khu vực tư nhân khiến việc nghỉ phép của cha mẹ trở nên trung lập về giới hơn cũng như các chương trình nhằm thay đổi thái độ của nam giới đối với công việc gia đình.
Asplund & Napari (2011) với đề tài “Intangibles and the Gender Wage Gap: An Analysis of Gender Wage Gaps Across Occupations in the Finnish Private Sector” đã sử dụng phương pháp hồi quy phân vị va phân rã Machado-Mata dé phân tích chênh lệch tiền lương ở Phần Lan giai đoạn 2002-2009. Nghiên cứu so sánh chênh lệch tiền lương theo giới trên từng phân vị khi xét trong từng nhóm lao động khác nhau. Ở nhóm lao động đòi hỏi sự sáng tạo, phân vị càng lớn thì chênh lệch càng thấp trong hai năm 2002 và 2009; trong khi, ở nhóm lao động khác thì sự chênh lệch này không có xu hướng tăng hay giảm rõ rệt trên các phân vị. Mô hình của nghiên cứu có 11 bién phụ thuộc là tiền lương theo giờ, các biến độc lập là: số năm đi học, số năm kinh nghiệm làm việc, số năm thâm niên, tỉ lệ lao động sáng tao trong chi nhánh, tỉ lệ lao.
động sáng tạo trong công ty và quy mô doanh nghiệp. Kết quả phân rã sự chênh lệch cho thấy sự khác nhau giữa các biến độc lập trong mô hình giải thích được một phần rất nhỏ chênh lệch tiền lương giữa lao động nam và nữ Chính mức độ đãi ngộ khác nhau giữa nam và nữ nhận được là nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch tiền lương. Nestic (2010) đã sử dụng số liệu từ Điều tra lực lượng lao động 6 Croatia năm 1998 và 2008 dé phân tích chênh lệch tiền lương theo giới dựa trên hàm tiền lương Mincer (1974) và phương pháp phân rã Machado-Mata dé phân rã chênh lệch tiền lương theo giới trong bài nghiên cứu “The Gender Wage Gap in Croatia — Estimating the Impact of Differing Rewards by Means of Counterfactual Distributions”. Bai nghiên cứu đã áp dụng cả kỹ thuật hồi quy lượng tử va OLS dé đánh giá khoảng cách tiền lương theo giới.
Kết quả cho thấy có sự chênh lệch tiền lương giữa nam và nữ. Mức chênh lệch này có xu hướng giảm dần ở cả khu vực công và tư, nhưng sự giảm ở khu vực công rõ nét hơn. Xét về trình độ học vấn, nhóm trình độ học vấn càng cao. thì chênh lệch thu nhập theo giới tính càng giảm.
Khoảng cách tiền lương trung bình theo giới chưa được điều chỉnh được cho là tương đối thấp và đang giảm dan. Bai báo này chỉ ra rằng phụ nữ có việc làm ở Croatia sở hữu thị trường lao động có chất lượng cao hơn so với đàn ông, đặc biệt là về trình độ giáo dục, nhưng, phần thưởng và tiền lương nhận được thấp hơn nhiều so với nam giới. Kỹ thuật phân rã Machado- Mata được sử dụng đề ước tính khoảng cách tiền lương theo giới tính do tác động của các phần thưởng khác nhau. Kết quả cho thấy do các phần thưởng khác nhau nên khoảng cách trung bình đã vượt quá 20% và đã tăng lên trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến năm 2008.
Khoảng cách được cho là cao nhất ở phan từ thấp đến trung. bình của việc phân phối tiền lương.