Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương 2: Tổng quan về các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam và nguồn thu nhập ngoài lãi của Ngân Hàng. Chương 3: Thực trạng nguồn thu nhập ngoài lãi và các yếu tố tác động đến nguồn thu nhập ngoài lãi của các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Việt Nam. Chương 4: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, giải pháp. 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ THU NHẬP NGOÀI LÃI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khái quát chung về ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Có nhiều chuyên gia nghiên cứu về vấn đề này và đương nhiên là có những chính kiến khác nhau. Nhưng tổng quan khi nghiên cứu về các NHTM, các chuyên gia đều có cách nhìn khá đồng nhất về NHTM như sau: Ở Mỹ định nghĩa rằng: NHTM là công ty để kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ các tài chính. Ở Pháp định nghĩa rằng: NHTM là doanh nghiệp và TCTD thường xuyên nhận của khách hàng các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.
Việt Nam định nghĩa rằng : NHTM là ngân hàng kinh doanh tiền tệ vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng để cấp tín dụng và thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Với tư cách là tổ chức kinh doanh, hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận. Nhìn chung, Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật.2 Chức năng của ngân hàng thương mại - Chức năng trung gian tín dụng Với nội dung trung gian tín dụng, NHTM tiến hành huy động vốn và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế hiện nay để tạo lập nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn đó để cho khách hàng có nhu cầu vay, chiết khấu và đầu tư vào các nhu cầu khác trong nền kinh tế.
Như vậy ngân hàng vừa đi vay lại vừa cho vay hay nói một cách khác là ngân hàng vừa “mua” tiền vừa “bán” tiền, phần tiền chênh giữa giá “bản” và giá “mua” chính là bộ phận lớn trong lợi nhuận của ngân hàng thương mại. Trung gian tín dụng giữa ngân hàng trung ương và nền kinh tế thị trường: 5 Khi đã tận dụng mọi nguồn vốn, bao gồm cả nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động, nguồn vốn khác nhưng vẫn không đủ đáp ứng cho nhu cầu vay nợ của nền kinh tế, ngân hàng thương mại sẽ vay vốn ở ngân hàng trung ương và lúc này ngân hàng trung ương sẽ xuất hiện là người cho vay cuối cùng đối với các ngân hàng thương mại. Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này giúp ích sự tồn tại và phát triển ngân hàng, tạo nguồn vốn để ngân hàng thương mại kinh doanh và kích thích gia tăng thu nhập lợi nhuận và là cơ sở để ngăn hàng thương mại tạo bút tệ. Đối với khách hàng tiến gửi vừa giúp cho vốn nhàn rồi tăng khả năng sinh lợi lại vừa đảm bảo an toàn vốn.
Như vậy, thực hiện chức năng trung gian tín dụng không chỉ có lợi cho bản thân NHTM mà còn có lợi cho các khách hàng và cả nền kinh tế của thị trường. - Chức năng trung gian thanh toán (thủ quỹ) Thực hiện chức năng trung gian thanh toán là việc các ngân hàng trả tiền và nhập tiền của họ vào tài khoản cho khách hàng theo lệnh của chủ tài khoản. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng của ngân hàng thương mại vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho khách hàng thanh toán mà còn có ý nghĩa lớn lao đối với nền kinh tế, đó là tiết kiệm tiền mặt lưu thông và tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ. Chức năng trung gian thanh toán này vừa làm tiền để và cơ sở để các ngân hàng thương mại phát triền, tăng quy mô tín dụng cho nền kinh tế vừa tiết kiệm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền tệ, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch vụ ngân hàng khác phát triển.
- Chức năng tạo tiền (tạo bút tệ) Ngân hàng vừa nhận tiền gửi lại vừa cho vay bằng chuyển khoản, tạo điều kiện và tiền tệ để hệ thống ngân hàng thương mại có khả năng tạo tiền. Với khoản tiền gửi nhận được ban đầu thông qua cho vay, NHTM có khả năng mở rộng tiền gửi không kỳ hạn gấp nhiều lần, do đó tạo bút tệ cho lưu thông phát triển. Quá trình tạo tiền phụ thuộc vào hệ số nhân tiền gửi mở rộng, hệ số nhân tiền gửi mở rộng phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc, có nghĩa rằng: Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà 6 càng thấp thì khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại càng cao và ngược lại, tỷ lệ dự trữ bắt buộc mà càng cao thì khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại càng thấp.3 Vai trò của ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế Vai trò của hệ thống NHTM Việt Nam đối với những khởi sắc của nền kinh tế trong suốt thời gian qua không thể phủ nhận. Các NHTM đã luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc tận dụng và phát huy các nguồn lực tài chính trong nước, đáp ứng nhu cầu tín dụng của đông đảo các đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội như: + Có vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát, duy trì sự ổn định giá trị của đồng tiền và tỷ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.
+ Thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu. Dịch vụ ngân hàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại trong việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh. + Tín dụng ngân hàng góp phần tích cực cho việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế của ngân hàng trong nhiều năm liên tục. Dư nợ cho vay trong nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP.
+ Hỗ trợ việc làm mới và thu hút lao động, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. + Góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững. Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án, quyết định cho vay vốn cho các dự án và giám sát việc thực hiện một cách chặt chẽ sau khi cho vay vốn từ ngân hàng, các TCTD phải có trách nhiệm luôn chú trọng trong việc yêu cầu các khách hàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế và các quy định về bảo vệ môi trường, không được làm trái với các quy định mà ngân hàng và nhà nước đề ra. Các dịch vụ ngân hàng ngày càng đa dạng.
Ngoài các loại hình nhận và gửi tiền với các mức lãi suất linh động nhằm tạo ra nhiều gói dịch vụ tiền gửi đa dạng và phù hợp với nhiều đối tượng khách hàng. Các hình thức thanh toán ngày càng trở nên đa dạng: séc, tiền gửi, tài khoản tiết kiệm, thẻ ghi nợ, thẻ ATM,., việc cấp tín dụng cũng trở nên dễ 7 dàng với những gói vay hấp dẫn kích thích nhu cầu sử dụng vốn của các chủ thể cũng như đáp ứng nhu cầu vốn của nhiều chủ thể kinh doanh khác nhau trên thị trường kinh tế.4 Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại ❖ Hoạt động huy động vốn: + NHTM nhận tiền gửi không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động từ khách hàng trong và ngoài nước. ❖ Hoạt động cấp tín dụng: + Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng dưới các hình thức như: Cho vay, Chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; Bảo lãnh ngân hàng; Phát hành thẻ tín dụng; Bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận.
❖ Hoạt động dịch vụ thanh toán: + Ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước và duy trì trên tài khoản tiền gửi này số dư bình quân không thấp hơn mức dự trữ bắt buộc. + Ngân hàng thương mại mở tài khoản thanh toán cho khách hàng; Cung ứng các phương tiện thanh toán; Cung ứng các dịch vụ thanh toán gồm: Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm séc, lệnh chỉ, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, uỷ nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng, dịch vụ thu hộ và chi hộ; Thực hiện dịch vụ thanh toán quốc tế và các dịch vụ thanh toán khác sau khi được Ngân hàng nhà nước chấp thuận. ❖ Hoạt động góp vốn, mua cổ phần: Ngân hàng thương mại chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo quy định dưới đây: + Ngân hàng thương mại phải thành lập hoặc mua lại công ty con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh: Bảo lãnh phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lí, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán; quản lí danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán cổ phiếu; Cho thuê tài chính; Bảo hiểm, quản lí tài sản 8 bảo đảm, kiều hổi, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng. + Ngân hàng thương mại được góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực: Bảo hiểm, chứng khoán, kiều hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
Trường hợp ngân hàng thương mại góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác không thuôc lĩnh vực kể trên phải được sự chấp thuận trước bằng văn bản của Ngân hàng nhà nước.