CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU NHẬP THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Khái niệm hộ gia đình Dưới góc độ xã hội học, gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, trong đó gồm những người có quan hệ ruột thịt hoặc cùng chung sống. Có thể hiểu gia đình là tế bào của xã hội, là hình thức tổ chức xã hội quan trọng nhất của cá nhân dựa trên hôn nhân, tức là quan hệ vợ chồng và các quan hệ huyết thống, giữa cha và mẹ với con mình đẻ ra, với con được nhận theo thủ tục nuôi con nuôi, giữa anh chị em và người thân thuộc khác cùng chung sống và có kinh tế chung. Dưới góc độ pháp lý, gia đình được hiểu là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Gia đình Việt Nam thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông bà, cha mẹ, con cháu.
Họ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ hay nuôi dạy thể hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Gia đình có các chức năng cơ bản: - Chức năng duy trì nòi giống; - Chức năng giáo dục; - Chức năng kinh tế. Bên cạnh chức năng cơ bản đó, gia đình còn phải thực hiện chức năng quan tâm và chăm sóc người cao tuổi.
Hơn nữa, thuật ngữ “hộ” là danh từ được hiểu là “nhóm gồm những người cùng ăn ở chung với nhau”. Do đó, hoàn toàn có thể hiểu hộ gia 6 đình là một tập hợp (nhóm người) cùng chung sống trên cơ sở những mối quan hệ đặc biệt tạo nên sự ràng buộc về mặt vật chất cũng như tinh thần giữa các thành viên của hộ. Hộ gia đình tham gia vào rất nhiều quan hệ xã hội, trong đó phổ biển là các quan hệ dân sự liên quan đến nhà ở, quyền sử dụng đất, lối đi, hệ thống tải điện, hệ thống cấp thoát nước, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ do các thành viên hộ gia đình tạo ra. Thông qua các quan hệ này, quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình được phát sinh, thay đổi, hoặc chấm dứt.
Có thể xác định những dấu hiệu để nhận diện một nhóm người có đủ điều kiện trở thành hộ gia đình tham gia quan hệ pháp luật dân sự như sau: - Tập hợp từ 02 thành viên trở lên; - Giữa các thành viên tồn tại một trong ba mối quan hệ: hôn nhân, huyết thống, hoặc quan hệ nuôi dưỡng; - Cùng chung sống tại một địa chỉ thuộc một đơn vị hành chính nhất định; - Có tài sản chung và cùng duy trì tài sản chung bằng cách đóng góp tài sản hoặc công sức để thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp hoặc các lĩnh vực sản xuất tập thể khác.2 Khái niệm về hộ nông dân Hộ nông dân là hộ gia đình hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ. Đặc điểm cơ bản nhất của phương thức sản xuất hộ nông dân là dựa trên sử dụng lao động gia đình là chính, chỉ đi thuê một phần nhỏ lao động. Theo FAO, nông dân gia đình bao gồm những người dân bản địa, cộng đồng truyền thống, ngư dân, nông dân miền núi, người chăn thả gia súc và nhiều nhóm đại diện cho mọi khu vực và các quần xã.3 Khái niệm về kinh tế hộ Kinh tế hộ gia đình là một tổ chức kinh doanh thuộc sở hữu của hộ gia đình.
Trong đó các thành viên của hộ gia đình có tài sản chung, cùng góp công sức để thực hiện 7 hoạt động kinh tế trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định. Sự tồn tại của kinh tế hộ gia đình chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững và vươn lên làm giàu chính đáng (Mai Thị Thanh Xuân & Đặng Thị Thu Hiền, 2013). Kinh tế gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới. Sự trường tồn của hình thức sản xuất này đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước.
Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình cũng có vai trò và ý nghĩa to lớn, bởi vì nước ta bước vào nền kinh tế thị trường với gần 80% dân số đang sinh sống ở nông thôn với xuất phát điểm thấp, kinh tế hộ gia đình đang là một đơn vị sản xuất phổ biến. Đây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hiện nay, kinh tế hộ gia đình không phải là một thành phần kinh tế, nhưng là một loại hình để phân biệt với các hình thức tổ chức kinh tế khác. Một trong các thành viên của kinh tế hộ gia đình đồng thời là chủ hộ.
Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất. Chủ hộ điều hành toàn bộ mọi quá trình sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm vô hạn về mọi hoạt động của mình. Ở nước ta, kinh tế hộ gia đình phát triển chủ yếu ở nông thôn, thường gọi là kinh tế hộ gia đình nông dân, ở thành thị thì gọi là các hộ tiểu thủ công nghiệp. Kinh tế hộ gia đình hiện đang phát triển và hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, vận tải, xây dựng, thương mại dịch vụ và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, kinh doanh… 1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một thuật ngữ mang hàm nghĩa rộng, được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau.
8 Theo tầm vĩ mô, nguồn nhân lực được xem là nguồn đầu vào quan trọng, quyết định tới sự phát triển của một đất nước. Khái niệm này đã được ứng dụng rộng rãi nhằm chỉ vai trò và vị trí của con người đối với sự phát triển của nền kinh tế, xã hội. Theo như cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực được xem là tập hợp toàn bộ những kiến thức, năng lực và kỹ năng của con người có liên quan tới sự phát triển của nền kinh tế và xã hội. Nguồn nhân lực ở khía cạnh này được xem xét dựa trên phương diện chất lượng, vai trò cũng như sức lực của con người trong sự phát triển của xã hội.
Một số quan điểm khác cho rằng nguồn nhân lực là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu đối với lực lượng sản xuất. Nó quyết định tới sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất. Đồng thời quyết định tới sự phát triển và sự tiến bộ trong toàn xã hội. Trong bài nghiên cứu này, ta chỉ xem xét nguồn nhân lực của hộ trồng rừng được hình thành dựa trên những thành viên trong hộ có vai trò khác nhau về kinh nghiệm sản xuất, trình độ học vấn, khả năng tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật… tất cả được liên kết lại thông qua mục tiêu chung của hộ là nâng cao nguồn thu nhập.
Nguồn lực tài chính Nguồn lực tài chính có thể được hiểu là khối lượng giá trị được biểu thị dưới hình thái tiền tệ và được hình thành bởi quá trình tạo lập, sử dụng những quỹ tiền tệ khác nhau nhằm phản ánh về các mối quan hệ kinh tế xã hội đối với việc phân phối tương ứng và phù hợp trình độ phát triển nhất định của một nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu chi tiêu bằng tiền của những chủ thể trong quá trình sản xuất. Nói chung, nguồn lực tài chính được hiểu theo nghĩa tổng quát đó là những nguồn vốn về tiền tệ (hay các loại tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng) của một nền kinh tế có thể huy động giúp tạo nên những quỹ tiền tệ nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. 9 Nguồn lực tài chính của hộ trồng rừng bao gồm: tiền mặt, các khoản tiền gửi/tiết kiệm ngân hàng, các tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền nhanh chóng; Các khoản tín dụng đầu tư và phát triển của Nhà Nước và từ nguồn vay thương mại từ cá nhân, tổ chức hoặc ngân hàng nhằm phát triển sản xuất; Nguồn lực vật chất Nguồn lực vật chất bao gồm những yếu tố như: vốn sản xuất, vật tư, máy móc, thiết bị, công cụ dụng cụ, tư liệu sản xuất (mà quan trong nhất đối với hộ lâm nghiệp là đất đai canh tác), nguyên vật liệu dự trữ, thông tin môi trường kinh doanh. Mỗi hộ trồng rừng có các đặc trưng về các nguồn lực vật chất riêng.
Việc xem xét và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật chất của mỗi hộ là cơ sở quan trọng giúp chủ hộ hiểu được các nguồn lực vật chất tiềm tàng, những hạn chế của mình. Từ đó có các quyết định đối với công việc sản xuất như: khai thác tối đa các nguồn vốn bằng tiền và nguồn vốn cơ sở vật chất hiện có, lựa chọn và huy động các nguồn vốn bên ngoài khi thật sự có nhu cầu, chọn đối tượng cần hợp tác nhằm tăng qui mô nguồn lực vật chất. Nguồn lực tự nhiên Khái niệm nguồn lực tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đều ám chỉ những yếu tố vật chất có nguồn gốc từ tự nhiên, nhưng không phải là toàn bộ giới tự nhiên; mà chỉ gồm những yếu tố, những điều kiện có quan hệ gián tiếp hay trực tiếp với đời sống và lao động của con người. Ở đây, nguồn lực tự nhiên ảnh hưởng đến thu nhập của hộ trồng rừng có thể hiểu là: - Thổ nhưỡng: tư liệu sản xuất quan trọng nhất đối với hộ trồng rừng.