Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Khoa học Môi trường với đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Bó - tỉnh Cao Bằng” do sinh viên Lê Thị Xuân Hồng thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Minh Ngọc (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2016).

Khu di tích lịch sử Pác Bó (thuộc bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng) là địa danh lịch sử quan trọng, nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn để trở về Tổ quốc vào ngày 28/01/1941 sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước nhằm trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Quần thể này đã được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt vào ngày 10/05/2012, bao gồm 42 di tích gốc tiêu biểu như cột mốc 108, núi Các Mác, suối Lê Nin, hang Cốc Bó, bàn đá lịch sử, lán Khuổi Nặm... Với cảnh quan núi non hùng vĩ, khu di tích mỗi năm đón trên 25.000 lượt khách tham quan kết hợp giữa du lịch lịch sử – văn hóa và du lịch sinh thái. Sự gia tăng của hoạt động du lịch cùng các sinh hoạt, sản xuất bản địa tạo ra áp lực nhất định lên môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, tại Pác Bó chưa có đề tài khoa học nào đánh giá chuyên biệt và toàn diện về tác động của du lịch và các hoạt động nhân sinh tới môi trường sinh thái.

Khóa luận xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  2. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý về môi trường và hệ sinh thái của khu di tích.
  3. Xác định và làm rõ các ảnh hưởng của hoạt động du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường sinh thái của khu di tích.
  4. Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và duy trì các giá trị sinh thái vốn có.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng các thành phần môi trường sinh thái (đất, nước, không khí, chất thải rắn) và các tác động do hoạt động du lịch cùng các hoạt động khác (sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, khai thác thủy sản) tới môi trường sinh thái tại khu di tích.
  • Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử Pác Bó và khu vực dân cư lân cận thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Tổng diện tích quy hoạch khu di tích là 500 ha, trong đó diện tích sử dụng là 295 ha (bao gồm 100 ha đất rừng giao khoán cho các hộ dân tự quản lý).
  • Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu và khảo sát thực địa được thu thập từ ngày 31/09/2015 đến tháng 11/2015; công tác xử lý số liệu và hoàn thiện báo cáo diễn ra trong tháng 4 và tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm chuyên ngành

Tác giả tổng quan hệ thống lý luận học thuật liên quan đến khoa học môi trường và quản lý du lịch:

  • Khái niệm di tích: Di tích lịch sử – văn hóa theo Luật Di sản văn hóa (2001); tiêu chí xác định Di tích quốc gia đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng.
  • Khái niệm môi trường và môi trường sinh thái: Tổng hợp quan điểm của Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (1993, 2005), định nghĩa của UNESCO (1981) và Vũ Trung Tạng (2000) về môi trường ngoại cảnh; cấu trúc môi trường sinh thái đất (địa quyển/thạch quyển - Lithosphere) và môi trường nước (thủy quyển - Hydrosphere).
  • Khái niệm du lịch và du lịch sinh thái (DLST): Tiếp cận định nghĩa du lịch theo Pháp lệnh Du lịch (1999) và Luật Du lịch (2005); tổng thuật các định nghĩa về DLST của Hector Ceballos-Lascurain (1987), Boo (1991), Khung du lịch sinh thái Úc (1994), Hiệp hội Du lịch Sinh thái Hoa Kỳ (1998), Honey (1999), Hội thảo Chiến lược quốc gia về DLST tại Việt Nam (1999), Lê Huy Bá (2000), Quy chế quản lý DLST của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007) và Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES).
  • Tổng quan thực tiễn: Khái quát các báo cáo tác động môi trường du lịch của Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC), nghiên cứu của PGS. Phạm Trung Lương (2010), ThS. Đặng Văn Huyến (2003 tại Vườn quốc gia Xuân Thủy), TS. Trần Văn Hiến (2009 về ô nhiễm phân bón trong nông nghiệp) và bức tranh phát triển du lịch tại tỉnh Cao Bằng (năm 2015 đón 650.000 lượt khách, trong đó có 35.000 khách quốc tế, doanh thu 115 tỷ đồng, tăng trưởng 18%).

Cơ sở pháp lý

Nghiên cứu vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật môi trường Việt Nam:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (thông qua ngày 29/11/2005, hiệu lực từ 01/07/2006).
  • Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 24/2004/QH11 ngày 03/12/2004.
  • Luật Du lịch số 44/2005/QH11 ngày 14/06/2005.
  • Luật Đa dạng sinh học năm 2008 (thông qua ngày 13/11/2008, hiệu lực từ 01/07/2009).
  • Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.
  • Quyết định số 126/QĐ-TTg năm 2012 về thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng đặc dụng.
  • Thông tư số 43/2013/TT-BTNMT ngày 25/01/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; QCVN 08:2008/BTNMT về chất lượng nước mặt.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học môi trường:

  • Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu địa bàn, kinh tế – xã hội, biến động đất đai và tài liệu quan trắc từ UBND xã Trường Hà, Ban quản lý Khu di tích Pác Bó và Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Trực tiếp ghi nhận hiện trường, chụp ảnh các vị trí chịu tác động từ hoạt động du lịch, nguồn xả thải và hoạt động dân sinh.
  • Phương pháp điều tra xã hội học (phỏng vấn qua phiếu câu hỏi):
    • Khảo sát 10 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý Khu di tích Pác Bó về công tác điều hành, thuận lợi và khó khăn trong bảo tồn.
    • Phỏng vấn 30 hộ dân bản địa tại làng Pác Bó về sinh kế và nhận thức môi trường.
    • Phỏng vấn 30 khách du lịch về hiện trạng môi trường và chất lượng dịch vụ.
  • Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi chuyên môn với giảng viên hướng dẫn và cán bộ quản lý khu di tích.
  • Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu: Kiểm tra chéo số liệu loại bỏ sai lệch, tổng hợp định tính theo phương pháp trần thuật, tính toán chỉ số bình quân số liệu định lượng bằng Word, Excel và đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Bố cục khóa luận được xây dựng theo chuẩn cấu trúc gồm 5 phần chính:

Phần 1: Đặt vấn đề

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa bảo tồn di tích lịch sử – cảnh quan thiên nhiên và phát triển du lịch. Xác định rõ mục tiêu, 5 yêu cầu nghiên cứu (tính chính xác, khách quan, hình ảnh chân thực, đánh giá đầy đủ và giải pháp khả thi) cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản trị môi trường địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về di tích lịch sử văn hóa, di tích quốc gia đặc biệt, phân loại các thành phần môi trường (đất, nước, không khí) và các nguyên nhân gây ô nhiễm nhân tạo (công nghiệp, giao thông, nông nghiệp, sinh hoạt). Làm rõ lý luận về du lịch sinh thái và môi trường du lịch, trích dẫn các cảnh báo của WTTC về suy giảm đa dạng sinh học do san lấp, biến đổi cảnh quan và quá tải chất thải. Đồng thời, tổng hợp cơ sở pháp lý và các nghiên cứu điển hình về bảo vệ môi trường du lịch tại Việt Nam cùng thực trạng du lịch sinh thái tỉnh Cao Bằng.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, phạm vi không gian và thời gian khảo sát; phân định các nội dung nghiên cứu (điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội xã Trường Hà, quy hoạch khu di tích, chất lượng các thành phần môi trường, đánh giá tác động của du lịch và các hoạt động liên quan, đề xuất giải pháp); thuyết minh quy trình áp dụng 5 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là phần trọng tâm của khóa luận, gồm các nội dung chính:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Trường Hà:

    • Vị trí và địa hình: Xã biên giới vùng 2, diện tích 30,02 km² (2.945,29 ha), dân số 1.604 người (mật độ 55 người/km²), gồm 7 xóm: Hoàng 1, Hoàng 2, Hoong 1, Hoong 2, Nà Kéo, Nà Mạ, Pác Bó. Địa hình chia cắt phức tạp, độ cao 250m – 950m, phân thành vùng đồi núi thấp (250m – 500m) canh tác lúa, nương rẫy và vùng núi cao (500m – 950m) khoanh nuôi rừng đặc dụng.
    • Khí hậu, thủy văn: Nhiệt độ trung bình năm 22,4°C; lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm (80% lượng mưa tập trung trong các tháng 7, 8, 9); độ ẩm trung bình 84%. Thủy văn chịu ảnh hưởng của suối Lê Nin cùng các nhánh suối Khuổi Hoong, Bản Hoàng; mùa mưa dòng chảy lớn dễ gây lũ cục bộ, mùa khô cạn kiệt.
    • Kinh tế – xã hội: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 15,3%/năm; GDP bình quân đầu người đạt 1,4 triệu đồng; cơ cấu kinh tế Nông nghiệp – Công nghiệp – Thương mại dịch vụ tương ứng là 85% – 5% – 10%; thu ngân sách địa bàn đạt 255,579 tỷ đồng. Lực lượng lao động có 753 người (chiếm 48% dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm 85% (658 người), phần lớn chưa qua đào tạo; lao động trẻ 18–45 tuổi chiếm 84%.
  • Đặc điểm Khu di tích lịch sử Pác Bó: Quy hoạch 500 ha (diện tích sử dụng 295 ha, có 100 ha rừng đặc dụng giao dân quản lý). Khu vực làng Pác Bó có 122 hộ với 513 nhân khẩu (chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng), trình độ văn hóa bình quân ở mức 7/10 hoặc thấp hơn. Quy hoạch gồm 5 khu chức năng chính: Khu di tích gốc (Nhà tưởng niệm Bác Hồ, Nhà trưng bày hiện vật, sân lễ hội, làng văn hóa), Khu dịch vụ du lịch (tổng mức đầu tư trên 320 tỷ đồng), và Khu di tích Bác Hồ với Chiến dịch Biên giới 1950 trên núi Báo Đông (kinh phí đầu tư trên 10 tỷ đồng).

  • Hiện trạng môi trường sinh thái và biến động đất đai: Phân tích biến động sử dụng đất năm 2014 – 2015 trên địa bàn toàn xã; đánh giá nguồn nước mặt suối Lê Nin (dữ liệu quan trắc định kỳ 2 lần/năm của Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Cao Bằng tại vị trí đập tràn); khảo sát công tác thu gom, thành phần rác thải và lượng sử dụng tài nguyên của 30 hộ dân trong khu vực.

  • Đánh giá ảnh hưởng của du lịch và các hoạt động dân sinh:

    • Hoạt động du lịch: Nhận diện các mặt tích cực (tạo việc làm, thúc đẩy cơ sở hạ tầng, nâng cao ý thức bảo tồn) và tiêu cực (áp lực rác thải sinh hoạt, nguy cơ ô nhiễm cục bộ nguồn nước mặt suối Lê Nin, xói mòn thảm thực vật ven đường đi, tiếng ồn ảnh hưởng đến động vật hoang dã). Tổng hợp kết quả phỏng vấn 30 hộ dân và du khách về tác động môi trường.
    • Các hoạt động khác: Tác động từ việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong trồng trọt; phân thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm; hoạt động khai thác lâm sản, củi đốt; và hoạt động đánh bắt thủy sản trái phép trên suối.
  • Đề xuất giải pháp: Xây dựng hệ thống giải pháp phân định theo 3 nhóm đối tượng: Cơ quan quản lý (Ban quản lý di tích, chính quyền xã), Khách du lịch và Cộng đồng dân cư địa phương.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết những kết quả đạt được về hiện trạng môi trường và mức độ tác động của các hoạt động nhân sinh; đưa ra các kiến nghị quản lý nhằm bảo tồn tính nguyên vẹn của di tích và duy trì hệ sinh thái tự nhiên.


Kết quả và đóng góp

Số liệu hiện trạng môi trường và kinh tế – xã hội

Chỉ tiêu / Thành phần Giá trị / Hiện trạng ghi nhận trong văn bản
Tổng diện tích tự nhiên toàn xã Trường Hà 30,02 km² (2.945,29 ha)
Dân số và mật độ dân cư 1.604 người (411 hộ), mật độ 55 người/km²
Quy mô dân cư làng Pác Bó (khu di tích) 122 hộ, 513 nhân khẩu (chủ yếu là dân tộc Tày, Nùng)
Tăng trưởng GDP & Cơ cấu kinh tế xã Tăng trưởng 15,3%/năm; Nông nghiệp 85%, Dịch vụ 10%, Công nghiệp 5%
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn xã 255,579 tỷ đồng/năm
Tổng diện tích đất nông nghiệp (2015) 2.763,1 ha (giảm 1,14 ha so với năm 2014)
Đất sản xuất nông nghiệp 233,79 ha (chiếm 8,42% đất nông nghiệp; bình quân 0,58 ha/hộ)
Đất lâm nghiệp 2.527,96 ha (100% rừng đặc dụng: tự nhiên 2.189,39 ha, trồng 338,57 ha)
Đất phi nông nghiệp 126,96 ha (đất ở nông thôn 20,89 ha - 507 m²/hộ; chuyên dùng 97,15 ha)
Đất chưa sử dụng 53,23 ha (đất bằng 5,47 ha; đồi núi 9,77 ha; núi đá không rừng 37,99 ha)
Lượng khách du lịch đến Pác Bó Trên 25.000 lượt khách/năm
Kinh phí đầu tư các phân khu chính Khu dịch vụ du lịch: >320 tỷ đồng; Khu di tích Báo Đông: >10 tỷ đồng

Kết quả phân tích tác động môi trường

  1. Môi trường đất và biến động sử dụng đất: Biến động đất đai giai đoạn 2014 – 2015 thể hiện sự chuyển dịch cục bộ: đất nông nghiệp giảm 1,14 ha (chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp), trong khi đất công cộng phi nông nghiệp tăng 0,78 ha do quá trình mở rộng hạ tầng, công trình phục vụ du lịch và di tích. Việc thu hẹp đất sản xuất tạo sức ép chuyển dịch việc làm và làm tăng mức độ phụ thuộc vào tài nguyên rừng của một bộ phận người dân.
  2. Môi trường nước suối Lê Nin: Nguồn nước mặt phục vụ đa mục đích (sinh hoạt, nông nghiệp, cảnh quan du lịch). Dù chất lượng tổng thể duy trì ổn định theo định kỳ quan trắc của cơ quan chuyên môn, hoạt động tắm giặt, vứt rác của du khách vào mùa cao điểm và nước chảy tràn từ đất canh tác nông nghiệp có bón phân hóa học là các nguy cơ tiềm ẩn gây suy giảm chất lượng nước và phú dưỡng hóa cục bộ.
  3. Môi trường chất thải rắn: Lượng rác thải phát sinh gia tăng tỷ lệ thuận với các đợt cao điểm lễ hội và cuối tuần. Thành phần rác thải du lịch chủ yếu là bao bì nilon, chai nhựa, thức ăn thừa, gây áp lực lên năng lực thu gom và xử lý tại chỗ của Ban quản lý khu di tích.
  4. Tác động từ các hoạt động dân sinh khác: Hoạt động canh tác nông nghiệp sử dụng phân bón vô cơ, chăn nuôi gia súc thả rông, tập quán đun nấu bằng củi rừng và các hành vi khai thác, đánh bắt thủy sản trái phép trên các nhánh suối ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh vật bản địa và cấu trúc cảnh quan tự nhiên.

Giải pháp và kiến nghị đề xuất từ tác giả

  • Nhóm giải pháp đối với Ban quản lý và chính quyền địa phương:
    • Quy hoạch và lắp đặt bổ sung hệ thống thùng rác phân loại tại các điểm di tích gốc (hang Cốc Bó, suối Lê Nin, núi Các Mác, lán Khuổi Nặm); bố trí thu gom định kỳ hàng ngày, đặc biệt vào các dịp cao điểm.
    • Tăng cường bảng chỉ dẫn, biển báo nội quy bảo vệ môi trường, cấm xả rác và cấm đánh bắt thủy sản dọc tuyến tham quan suối Lê Nin.
    • Phối hợp với cơ quan kiểm lâm quản lý nghiêm ngặt 100 ha đất rừng đặc dụng giao khoán cho người dân; giám sát chặt chẽ hoạt động xây dựng công trình trong khu quy hoạch 500 ha.
    • Đẩy mạnh công tác quan trắc môi trường định kỳ các thông số nước mặt suối Lê Nin (BOD5, COD, DO).
  • Nhóm giải pháp đối với hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp:
    • Tuyên truyền, tập huấn cho 122 hộ dân làng Pác Bó sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng kỹ thuật, đúng liều lượng; thu gom bao bì thuốc BVTV sau sử dụng.
    • Quy hoạch chuồng trại chăn nuôi gia súc xa nguồn nước mặt suối Lê Nin; hướng dẫn xử lý chất thải chăn nuôi hợp vệ sinh.
    • Ngăn chặn triệt để hành vi khai thác gỗ, củi và đánh bắt thủy sản trái phép trong khu vực khoanh nuôi bảo vệ rừng đặc dụng.
  • Nhóm giải pháp nâng cao ý thức cộng đồng và du khách:
    • Tổ chức các chiến dịch truyền thông về du lịch sinh thái có trách nhiệm cho khách tham quan (học sinh, sinh viên, đoàn thể).
    • Nâng cao trình độ học vấn và nhận thức môi trường cho đồng bào dân tộc thiểu số địa phương, gắn quyền lợi sinh kế du lịch với trách nhiệm gìn giữ cảnh quan.

Đóng góp của đề tài

  • Đây là công trình đầu tiên khảo sát, đánh giá đồng bộ và có hệ thống số liệu về tác động của hoạt động du lịch kết hợp các hoạt động dân sinh đối với môi trường sinh thái tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó.
  • Cung cấp bộ dữ liệu thực địa (kết quả khảo sát 10 cán bộ quản lý, 30 hộ dân, 30 du khách; dữ liệu biến động đất đai 2014–2015) phục vụ công tác xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường và hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội bền vững cho xã Trường Hà và huyện Hà Quảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ cuối tháng 9/2015 đến tháng 11/2015), chưa bao quát trọn vẹn cả chu kỳ 2 mùa mưa – khô cũng như các đợt cao điểm lễ hội lớn trong năm; dung lượng mẫu phỏng vấn xã hội học còn ở quy mô vừa phải (70 phiếu); số liệu chất lượng môi trường phụ thuộc vào dữ liệu quan trắc thứ cấp từ cơ quan quản lý.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quan trắc tự lấy mẫu chuyên sâu theo từng mùa đối với các chỉ tiêu nước, đất, không khí tại từng tiểu khu di tích; nghiên cứu xác định sức chứa du lịch (carrying capacity) của Khu di tích Pác Bó; xây dựng mô hình du lịch sinh thái cộng đồng gắn với bảo tồn di sản văn hóa – lịch sử bền vững.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành: Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Du lịch Sinh thái, Địa lý và Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận đánh giá tác động môi trường tại các khu di tích lịch sử – văn hóa kết hợp danh thắng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị vận hành: Ban quản lý Khu di tích lịch sử Pác Bó, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng, UBND xã Trường Hà sử dụng hệ thống số liệu và khuyến nghị để xây dựng phương án quản lý chất thải rắn, kiểm soát nguồn nước suối Lê Nin và quản lý sử dụng đất rừng đặc dụng.
  • Nội dung giá trị nhất: Phần tổng hợp biến động đất đai 2014–2015, kết quả điều tra xã hội học về nhận thức môi trường của người dân bản địa và khung giải pháp quản lý môi trường phân cấp theo đối tượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu di tích lịch sử Pác Bó được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào thời điểm nào và có quy mô quy hoạch ra sao? Khu di tích Pác Bó được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt vào ngày 10/05/2012. Khuôn viên quy hoạch có tổng diện tích 500 ha, diện tích sử dụng là 295 ha, trong đó có 100 ha đất rừng đặc dụng chịu sự quản lý trực tiếp của khu di tích dưới hình thức giao khoán cho các hộ dân tự quản lý. Quần thể gồm 42 di tích gốc tiêu biểu gắn liền với giai đoạn hoạt động cách mạng của Bác Hồ từ năm 1941 đến 1945.

2. Địa bàn xã Trường Hà có những đặc điểm tự nhiên và cơ cấu kinh tế nào nổi bật trong giai đoạn nghiên cứu? Xã Trường Hà có diện tích 30,02 km² (2.945,29 ha), địa hình dốc phân tầng từ 250m đến 950m, nhiệt độ trung bình 22,4°C và lượng mưa 1.800 mm/năm (80% dồn vào các tháng 7, 8, 9). Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 15,3%/năm; cơ cấu kinh tế nghiêng mạnh về nông nghiệp với tỷ trọng Nông nghiệp – Công nghiệp – Thương mại dịch vụ là 85% – 5% – 10%; GDP bình quân đầu người đạt 1,4 triệu đồng và thu ngân sách trên địa bàn đạt 255,579 tỷ đồng.

3. Cơ cấu sử dụng đất tại xã Trường Hà có sự biến động như thế nào giữa năm 2014 và năm 2015? Tổng diện tích tự nhiên của xã giữ nguyên ở mức 2.945,29 ha. Biến động chủ yếu diễn ra do chuyển mục đích sử dụng: diện tích nhóm đất nông nghiệp giảm 1,14 ha (trong đó đất sản xuất nông nghiệp giảm nhiều nhất); nhóm đất phi nông nghiệp tăng lên, trong đó đất có mục đích công cộng tăng mạnh nhất (+0,78 ha) nhằm phục vụ các công trình hạ tầng và dịch vụ di tích. Toàn xã có 2.527,96 ha đất lâm nghiệp (chiếm 91,46% nhóm đất nông nghiệp), toàn bộ 100% là rừng đặc dụng (rừng tự nhiên 2.189,39 ha và rừng trồng 338,57 ha).

4. Dân cư khu vực làng Pác Bó có những đặc trưng gì ảnh hưởng đến công tác bảo vệ môi trường? Làng Pác Bó trong khu di tích có 122 hộ dân với 513 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào dân tộc Tày và Nùng. Trình độ học vấn của người dân còn ở mức thấp (phổ biến 7/10 hoặc thấp hơn), dẫn đến một số hạn chế trong việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và ý thức bảo vệ môi trường sinh thái, thể hiện qua tập quán canh tác dùng nhiều phân bón vô cơ, chăn nuôi gia súc tự do và sử dụng tài nguyên củi rừng.

5. Khóa luận đã sử dụng cỡ mẫu điều tra xã hội học như thế nào để đánh giá tác động của du lịch? Tác giả đã triển khai điều tra bằng phiếu câu hỏi trên 3 nhóm đối tượng mục tiêu với tổng số 70 phiếu: phỏng vấn 10 cán bộ quản lý đang công tác tại các bộ phận của Ban quản lý khu di tích Pác Bó; phỏng vấn 30 hộ dân bản địa sinh sống tại làng Pác Bó; và khảo sát 30 khách du lịch đến tham quan di tích trong thời gian thực tập từ tháng 9 đến tháng 11/2015.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Xuân Hồng đã phản ánh bức tranh toàn diện về hiện trạng môi trường sinh thái và sử dụng đất tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Pác Bó và xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng năm 2015–2016. Công trình đã làm rõ các áp lực môi trường phát sinh từ sự phát triển du lịch (trên 25.000 lượt khách/năm) kết hợp với các hoạt động canh tác nông nghiệp, lâm nghiệp và sinh hoạt của cư dân bản địa. Thông qua hệ thống số liệu khảo sát thực địa và phỏng vấn xã hội học, nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp quản lý, kỹ thuật và truyền thông có tính khả thi, góp phần hỗ trợ công tác bảo tồn di sản lịch sử gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững tại địa phương.