đặt vấn đề, tại thời điểm chia ruộng năm 1993 để đảm bảo công bằng, các hộ nông dân được chia ruộng cao-thấp, xa-gần, tốt-xấu khiến ruộng đất bị phân chia thành rất nhiều thửa loại, hạng đất khác nhau và manh mún rất cao. Tình trạng mang mún ở ĐBSH cũng như các vùng kinh tế khác trong cả nước tập trung chủ yếu trên các loại đất trồng cây hàng năm và mức độ manh mún thể hiện ở 2 mặt: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến 400 m , với cây màu nhỏ hơn 100-200 m2 đặc biệt, với cây rau thì rất nhỏ chỉ từ 20 – 50 2 m2, tỷ lệ thửa có diện tích < 100 m2 chiếm đến 5 - 10% tổng số thửa. Số thửa/hộ: Số hộ có từ 7 đến 10 thửa là phổ biến, thậm chí có nơi lên tới 25 thửa, cá biệt có hộ có 47 thửa (Vĩnh Phúc). Về số thửa/hộ giữa các vùng cũng có sự khác nhau.
Ví dụ: ở Nam Định là 5,7 thửa, ở TP Hà Nội là 8,3 thửa, trong đó ở Hải Dương là 11 thửa. Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân(m2)/thửa TT Vùng sinh thái Trung Cá Đất lúa Đất rau bình biệt 1 Trung du miền núi Bắc bộ 10 – 20 150 150 - 300 100 - 150 2 Đồng bằng sông Hồng 7 25 300 - 400 100 - 150 3 Duyên hải Bắc Trung bộ 7 – 10 30 300 - 500 200 - 300 4 Duyên hải Nam Trung bộ 5 – 10 30 300- 1000 200 - 1000 5 Tây Nguyên 5 25 200 - 500 1000 - 5000 6 Đông Nam bộ 4 15 1000 - 3000 1000 - 5000 7 Đồng bằng sông Cửu Long 3 10 3000 - 5000 500 - 1000 Nguồn: Tổng cục Địa chính (1997) Kết quả điều tra của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp cũng phản ánh rõ mức độ manh mún đất nông nghiệp ở 5 tỉnh thuộc vùng ĐBSH, kết quả cụ thể được tổng hợp ở Bảng 2. Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH Tổng số thửa/hộ Diện tích bình quân/thửa (m2) STT Tỉnh Nhiều Trung Nhỏ Lớn Trung Ít nhất nhất bình nhất nhất bình 1 Hải Phòng 5,0 18 6-8 20 700 216 2 Hải Dương 9,0 17 11,0 10 700 216 3 Vĩnh Phúc 7,1 47 9,0 10 5968 228 4 Nam Định 3,1 19 5,7 10 1000 288 5 Ninh Bình 3,3 24 8,0 5 3224 288 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2003) 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kết quả ở Bảng 2.3 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số tỉnh đồng bằng sông Hồng rất khác nhau; ở các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức độ manh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương trong ĐBSH; hầu như trong mỗi làng, xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp.
Đây chính là hệ quả của việc xây dựng đê điều từ rất sớm trong đồng bằng. Nguyên nhân thứ 2: là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con cái. Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các con sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳ phát triển của nông hộ. Nguyên nhân thứ 3: là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ.
Do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liên quan đến ruộng đất. Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân theo nguyên tắc xuất có tốt có xấu khi thực hiện Nghị định 64/NĐ-CP năm 1993. Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH. Quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là: + Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, tốt, xấu, cao, thấp.
Có như vậy mới thể hiện tính công bằng. + Độ phì tự nhiên của đất của các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ. + Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chia đều đất cho các hộ. + Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn, chua.
do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khi chia ruộng. + Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao, đặc biệt là các khu đất gần các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị, khu công nghiệp. vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro" nếu đất đai bị chuyển mục đích sử dụng. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp - Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được chi phí lao động đầu vào. - Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến bộ kỹ thuật (TBKT) để tăng năng suất. Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể. - Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ.
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có xu thế giảm. - Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng để đắp bờ vùng, bờ thửa. - Khó khăn trong quản lý đất và không phù hợp với sản xuất hàng hoá. Thực trạng về dồn điền đổi thửa - Khái niệm về dồn điền đổi thửa: là tập hợp, dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành các thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng to thành nhiều mảnh ruộng nhỏ.
Có hai cơ chế chủ yếu để thực hiện dồn điền đổi thửa: Một là để cho thị trường ruộng đất và các nhân tố phi tập trung tham gia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ để cơ chế này vẫn hành tốt. Hai là thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chia lại ruộng đất, thực hiện quy hoạch có chủ định, theo cách này các địa phương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyền của nông hộ đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật. Tuy nhiên việc thực hiện trong quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bình quân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau. - Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền, đổi thửa Hơn nửa thế kỷ qua, nông nghiệp việt nam đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu lương thực đứng thứ hai trên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế giới và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, nâng cao đời sống cho nông dân, ổn định nông thôn và xây dựng đất nước.
Sự phát triển của sản xuất nông nghiệp gắn liền với chính sách ruộng đất. Mỗi chính sách ruộng đất có tác dụng trong thời gian nhất định, phù hợp với phát triển nông nghiệp ở mỗi thời kỳ. Chính sách người cày có ruộng phù hợp với lao động thủ công Chính sách tập trung hóa ruộng đất sản xuất phù hợp với phát triển nông nghiệp trong thời kỳ chiến tranh. Chính sách giao ruộng đất cho nông dân phù hợp với sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường.
Thực hiện Luật Đất đai, hiện cả nước đang có tới 70 triệu thửa ruộng manh mún, bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 0,7 ha đất canh tác, có tới 7- 8 thửa, có hộ lên tới 48- 50 thửa. Ruộng đất manh mún đã hạn chế việc áp dụng cơ giới hóa và ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất. Từ năm 1997 đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam có chủ trương lớn là thực hiện dồn điền đổi thửa, dưới tên gọi “dồn ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn“ với mục đích là cho xuất hiện những vùng chuyên canh lớn. Với Nghị quyết 6 của Bộ Chính trị (năm 1998), Nghị quyết 03 của Chính phủ (năm 2000) kinh tế trang trại chính thức được công nhận như một loại hình sản xuất của thời kỳ kinh tế thị trường.
Kinh tế tranh trại đã tập trung và tích tụ ruộng đất với nhiều hình thức khác nhau để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn. Đây là mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả trong cơ chế thị trường. Nhờ có chính sách về đất đai, và các chính sách khác nhau của Nhà nước, nông nghiệp đã có sự phát triển vượt bậc, không chỉ tăng so với các thời kỳ trước, mà quan trọng là nhiều loại đã đủ dùng trong nước và xuất khẩu với khối lượng lớn và đứng thứ hạng cao trên thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, điều. Xu hướng tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại ngày càng được mở rộng với nhiều hình thức như: Nhận chuyển nhượng đất, thuê đất, mượn đất, dồn đổi, tập trung ruộng đất.
Tuy đạt được những thành tựu về tích tụ ruộng đất như trên, nhưng quá trình tích tụ ruộng đất đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc cần được tháo gỡ về cơ chế chính sách như: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chưa có quy hoạch về phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, theo hướng hiện đại bền vững. Mức hạn điền thấp, thời hạn sử dụng đất ngắn đã không khuyến khích nông dân tích tụ ruộng đất và yên tâm đầu tư phát triển sản xuất lâu dài. Chưa có chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở hạ tầng phù hợp với tích tụ ruộng đất để sản xuất hàng hóa lớn.