Tổng quan nghiên cứu

Sự bùng nổ của nền kinh tế tiêu dùng cùng tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đang tạo ra áp lực khổng lồ lên hệ thống quản lý môi trường tại Việt Nam. Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sản lượng sản xuất của ngành nhựa trong nước năm 2018 đạt khoảng 8,3 triệu tấn, trong đó bao bì nhựa chiếm tỷ trọng cao nhất với 36%. Đáng chú ý, mức tiêu thụ nhựa bình quân trên đầu người tại Việt Nam đã tăng vọt từ 3,8 kg/năm vào năm 1990 lên mức 41,3 kg/năm vào năm 2018. Lượng chất thải nhựa phát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm, nhưng có tới 79% bị chôn lấp hoặc thải trực tiếp ra môi trường và chỉ có khoảng 9% được thu gom tái chế hiệu quả.

Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách: sự gia tăng rác thải nhựa không chỉ diễn ra ở các đô thị lớn mà đang lan rộng nhanh chóng tại các khu vực nông thôn và bán sơn địa, nơi hạ tầng quản lý chất thải rắn còn nhiều hạn chế. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện mối quan hệ tác động giữa nhận thức, thói quen tiêu dùng của người dân đối với dòng phát sinh rác thải nhựa sinh hoạt tại huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian 26 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn trên tổng diện tích 21.626 ha với quy mô dân số 160.530 người, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008-2021 và dữ liệu khảo sát thực địa sơ cấp năm 2021. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp hệ thống số liệu định lượng làm cơ sở hoạch định chính sách phân loại rác tại nguồn, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu gánh nặng môi trường cho địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của hai nền tảng lý thuyết hành vi cốt lõi: Lý thuyết Hành vi Hoạch định (Theory of Planned Behavior - TPB) của Ajzen kết hợp cùng Lý thuyết Giá trị Kỳ vọng (Expectancy-Value Theory). Mô hình nghiên cứu đặt trọng tâm vào việc giải thích cách thức thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi định hình ý định và hành vi xả thải rác nhựa của người dân. Bên cạnh đó, đề tài vận dụng nguyên lý Quản lý Tổng hợp Chất thải Rắn (ISWM) và mô hình 3R (Reduce - Reuse - Recycle) nhằm tiếp cận dòng vật chất nhựa từ nguồn phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng.

Các khái niệm chính được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Rác thải nhựa sinh hoạt: Các phế phẩm từ polymer tổng hợp phát sinh từ hoạt động đời sống hộ gia đình, bao gồm túi nilon khó phân hủy, chai nhựa PET, hộp xốp PS và đồ nhựa dùng một lần.
  • Nhận thức môi trường: Mức độ hiểu biết, nhận diện của cá nhân về nguồn gốc, đặc tính phân hủy kéo dài hơn 400 năm của nhựa và các hiểm họa sinh thái do hóa chất phụ gia như DOP, TOCP gây ra.
  • Hành vi tiêu dùng bền vững: Chuỗi hành động có chủ đích nhằm hạn chế sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, ưu tiên tái sử dụng và tham gia phân loại rác tại nguồn.
  • Mức độ sẵn lòng chi trả (WTP): Khoản đóng góp kinh tế mà hộ gia đình đồng thuận chi trả nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ thu gom và xử lý rác thải nhựa cục bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa phương pháp định tính và định lượng nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Bảo vệ Môi trường, Nghị định số 38/2015/NĐ-CP, Luật Thuế Bảo vệ Môi trường số 57/2010/QH12, cùng các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của Ủy ban nhân dân huyện Yên Định từ năm 2008 đến năm 2021.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp thuận tiện trên quy mô hơn 200 hộ gia đình đại diện cho các vùng đồng bằng và bán sơn địa tại huyện Yên Định trong năm 2021. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện về cơ cấu giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và mức thu nhập bình quân 36,12 triệu đồng/người/năm của huyện.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, tỷ lệ phần trăm và so sánh chéo để lượng hóa dòng phát sinh rác thải. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh trực quan, chính xác mối quan hệ nhân quả giữa nhận thức cá nhân và hành vi xử lý rác thực tế mà không bị sai lệch bởi các yếu tố định tính chủ quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa tại huyện Yên Định đã làm sáng tỏ nhiều đặc trưng nổi bật trong dòng phát sinh và hành vi quản lý rác thải nhựa hộ gia đình:

  • Cấu trúc dòng phát sinh: Rác thải nhựa dùng một lần chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng khối lượng chất thải sinh hoạt của hộ gia đình. Trong đó, túi nilon chiếm khoảng 65% tổng lượng nhựa thải bỏ hàng ngày, kế tiếp là chai nhựa PET và bao bì đóng gói thực phẩm chiếm khoảng 25%. Khối lượng phát sinh rác nhựa bình quân ước tính dao động từ 0,045 kg đến 0,055 kg/người/ngày.
  • Nghịch lý giữa nhận biết và hành động: Có tới 72% người được hỏi nhận biết rõ rác thải nhựa gây ô nhiễm đất, nguồn nước và đe dọa sức khỏe con người khi bị đốt cháy. Tuy nhiên, có đến 63% người tiêu dùng vẫn duy trì thói quen không mang theo vật dụng chứa đựng khi đi chợ và phụ thuộc hoàn toàn vào túi nilon được cấp miễn phí từ người bán lẻ.
  • Hiện trạng phân loại tại nguồn còn thấp: Hơn 78% hộ gia đình chưa từng thực hiện phân loại riêng biệt rác thải nhựa với rác hữu cơ, mà gộp chung vào một thùng chứa để đơn vị vệ sinh vận chuyển hoặc tự tiêu hủy. Chỉ khoảng 12% hộ gia đình có thực hiện phân loại sơ bộ các loại chai nhựa có giá trị kinh tế để bán cho lực lượng thu gom phế liệu.
  • Mức độ sẵn lòng chuyển đổi: Khi được khảo sát về khả năng thay thế, 66% người dân bày tỏ sự sẵn lòng chuyển sang các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi tự phân hủy sinh học, với điều kiện giá thành sản phẩm tương đương hoặc chênh lệch không quá 10% so với đồ nhựa truyền thống.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phát sinh rác nhựa tại Yên Định phản ánh rõ nét thói quen tiêu dùng chú trọng sự tiện lợi và giá rẻ. Nguyên nhân sâu xa của việc tỷ lệ phân loại rác thấp bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ của hạ tầng: toàn huyện hiện chỉ có lò đốt rác của Công ty Cổ phần Môi trường Thành Tâm tại thị trấn Quán Lào xử lý cho 5 xã, thị trấn, trong khi quy hoạch ban đầu hướng tới 11 xã, thị trấn. Khoảng 70% các xã còn lại vẫn phải áp dụng hình thức chôn lấp giản đơn hoặc lưu giữ tại các bãi rác tạm chưa đạt chuẩn kỹ thuật.

Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu các loại rác thải phát sinh hàng ngày để làm nổi bật tỷ trọng vượt trội của đồ nhựa dùng một lần, kết hợp biểu đồ cột so sánh tỷ lệ nhận thức về tác hại môi trường với tỷ lệ thực hành phân loại thực tế. Khi đối chiếu với các nghiên cứu tại huyện Hoài Đức (Hà Nội) hay thành phố Hòa Bình, mô hình phát sinh tại Yên Định có sự tương đồng lớn về tâm lý tiêu dùng nhưng gặp bất lợi hơn về kinh phí duy trì đội ngũ thu gom và phương tiện vận chuyển chuyên dụng ở cấp thôn, xã.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác quản lý rác thải nhựa tại huyện Yên Định:

  • Ban hành quy chế quản lý và kiểm soát phát sinh tại nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Yên Định cần cụ thể hóa các chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vứt rác bừa bãi theo Nghị định của Chính phủ, đồng thời ban hành quy định bắt buộc phân loại rác tại nguồn đối với 100% cơ quan hành chính, trường học và chợ trung tâm trước quý IV/2023. Mục tiêu hướng tới giảm 25% khối lượng túi nilon khó phân hủy lưu thông tại các chợ truyền thống vào năm 2025.
  • Áp dụng các công cụ kinh tế và trợ giá tiêu dùng xanh: Phòng Tài chính - Kế hoạch phối hợp với Chi cục Thuế huyện tăng cường giám sát thuế bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất bao bì nhựa trên địa bàn; đồng thời tham mưu cơ chế hỗ trợ giảm 10% phí dịch vụ vệ sinh môi trường cho các hộ gia đình thực hiện phân loại rác nhựa tái chế đạt chuẩn giai đoạn 2023-2025.
  • Triển khai chiến dịch truyền thông đa kênh sâu rộng: Hội Phụ nữ và Huyện đoàn Yên Định làm nòng cốt thành lập mạng lưới tuyên truyền viên tại 22 xã và 4 thị trấn, định kỳ tổ chức ngày hội "Đổi rác nhựa lấy quà tặng sinh thái" vào thứ Bảy hàng tuần. Phấn đấu đến cuối năm 2024 đạt chỉ tiêu 90% người dân nắm vững quy trình phân loại rác 3R qua tờ rơi, loa phát thanh xã và mạng xã hội.
  • Nâng cấp đồng bộ hạ tầng thu gom và công nghệ xử lý: Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện phối hợp cùng doanh nghiệp môi trường Thành Tâm đẩy nhanh tiến độ mở rộng công suất xử lý của lò đốt rác Quán Lào, đảm bảo phủ kín khả năng tiếp nhận chất thải cho 11 xã theo đúng phê duyệt quy hoạch đến năm 2025; trang bị đồng bộ thùng rác 2 ngăn phân loại tại 100% điểm tập kết công cộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý môi trường và chính quyền cấp huyện, xã: Nắm bắt bức tranh định lượng chi tiết về dòng phát sinh chất thải nhựa nông thôn, từ đó xây dựng kế hoạch phân loại rác tại nguồn và phân bổ ngân sách hạ tầng xử lý rác sát thực tế.
  • Các nhà nghiên cứu, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh tế Phát triển, Quản lý Môi trường: Khai thác khung phân tích kết hợp lý thuyết hành vi với kinh tế chất thải, phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu mở rộng tại các địa bàn có điều kiện tương đồng.
  • Doanh nghiệp sản xuất bao bì sinh học và đơn vị dịch vụ môi trường: Khảo sát mức độ sẵn lòng chi trả và thị hiếu tiêu dùng của người dân khu vực nông thôn để định giá, phát triển dòng sản phẩm thay thế thân thiện và tối ưu hóa quy trình thu gom phế liệu.
  • Các tổ chức xã hội, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên: Tiếp cận cẩm nang mô hình truyền thông cộng đồng thực tiễn, giúp thiết kế các phong trào bảo vệ môi trường có tính lan tỏa và duy trì bền vững.

Câu hỏi thường gặp

  • Rác thải nhựa sinh hoạt tại huyện Yên Định phát sinh chủ yếu từ những nguồn nào? Rác thải nhựa tại địa phương phát sinh chủ yếu từ hoạt động sinh hoạt gia đình, trong đó túi nilon khó phân hủy chiếm tới 65%, đồ nhựa dùng một lần chiếm 25%, phần còn lại đến từ bao bì nông nghiệp như vỏ thuốc bảo vệ thực vật và vật liệu xây dựng dân dụng.

  • Nhận thức của người dân tác động như thế nào đến việc xả thải rác nhựa? Nhận thức là điều kiện cần nhưng chưa đủ; khảo sát cho thấy hơn 70% người dân hiểu rõ tác hại của nhựa đối với đất và nguồn nước, song tỷ lệ này chỉ chuyển hóa thành hành vi giảm tiêu thụ hoặc tái chế khi có sẵn các sản phẩm thay thế tiện lợi và giá rẻ.

  • Đâu là rào cản lớn nhất khiến người dân chưa phân loại rác nhựa tại nguồn? Rào cản lớn nhất là thói quen tiện dụng lâu năm kết hợp với sự thiếu hụt phương tiện thu gom phân loại đồng bộ; nhiều hộ gia đình cho rằng việc phân loại tại nhà trở nên vô nghĩa khi đơn vị vệ sinh vẫn thu gom chung vào một xe vận chuyển.

  • Nhà máy xử lý rác tại thị trấn Quán Lào hiện đáp ứng bao nhiêu phần trăm công suất? Lò đốt rác của Công ty Môi trường Thành Tâm tại thị trấn Quán Lào hiện mới chỉ vận hành xử lý rác thải sinh hoạt cho 5 trên tổng số 11 xã, thị trấn theo chủ trương quy hoạch của huyện, dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ tại các bãi rác tạm.

  • Giải pháp nào mang tính đột phá để thay đổi hành vi tiêu dùng nhựa tại nông thôn? Giải pháp đột phá là kết hợp đòn bẩy kinh tế và mạng lưới cộng đồng: đánh thuế cao đối với túi nilon mỏng tại nguồn bán buôn, kết hợp phong trào phân loại rác do Hội Phụ nữ chủ trì gắn với các tiêu chí bình xét gia đình văn hóa hàng năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về mối quan hệ giữa nhận thức, hành vi tiêu dùng và dòng phát sinh rác thải nhựa sinh hoạt tại địa bàn huyện Yên Định.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng với các số liệu định lượng xác thực: lượng túi nilon chiếm khoảng 65% rác nhựa, hơn 78% hộ dân chưa phân loại tại nguồn, và 66% sẵn lòng chuyển đổi sang sản phẩm xanh.
  • Nhận diện chính xác các nút thắt hạ tầng khi hệ thống lò đốt mới đáp ứng xử lý cho 5/11 đơn vị hành chính theo quy hoạch.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa mệnh lệnh hành chính, công cụ kinh tế, giáo dục truyền thông và đầu tư kỹ thuật giai đoạn 2022-2025.
  • Hướng phát triển tiếp theo cần mở rộng đánh giá vòng đời sản phẩm bao bì nông nghiệp và hoàn thiện mô hình kinh tế tuần hoàn cấp cơ sở; kêu gọi sự chung tay quyết liệt từ các cấp chính quyền, doanh nghiệp đến từng người dân vì một môi trường sống phát triển bền vững.