Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khu di tích lịch sử Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là địa danh ghi dấu sự kiện ngày 28 tháng 01 năm 1941, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Địa bàn này lưu giữ 42 di tích gốc tiêu biểu như cột mốc 108, núi Các Mác, suối Lê Nin, hang Cốc Bó, bàn đá dịch sử Đảng và lán Khuổi Nặm. Bên cạnh giá trị lịch sử và văn hóa cấp quốc gia, Pác Bó sở hữu hệ sinh thái núi đá vôi, rừng tự nhiên và nguồn nước mặt đặc trưng, thu hút bình quân trên 25.000 lượt khách tham quan mỗi năm thông qua hình thức kết hợp giữa du lịch về nguồn và du lịch sinh thái. Sự gia tăng của dòng khách cùng các hoạt động sinh kế bản địa (canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, thủy sản) tạo ra những áp lực đáng kể lên hệ sinh thái cục bộ. Xuất phát từ thực tế chưa có công trình nào đánh giá chuyên biệt và toàn diện về mức độ tác động của hoạt động du lịch tới chất lượng môi trường tại khu vực này, khóa luận tốt nghiệp ngành Khoa học Môi trường của tác giả Lê Thị Xuân Hồng đã được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học cho công tác quản trị môi trường địa phương.

Văn bản xác định rõ 04 mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường sinh thái tại khu di tích lịch sử Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  2. Đánh giá hiện trạng công tác quản lý về môi trường và hệ sinh thái của khu di tích.
  3. Xác định và làm rõ các ảnh hưởng của hoạt động du lịch và một số hoạt động khác tới môi trường sinh thái của khu di tích.
  4. Đề xuất một số biện pháp xử lý nhằm giảm thiểu các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và duy trì các giá trị sinh thái vốn có.

Đồng thời, nghiên cứu đặt ra 05 yêu cầu: phản ánh chính xác hiện trạng môi trường sinh thái; số liệu thu thập khách quan, trung thực; hình ảnh khảo sát chân thực và mang tính đại diện; đánh giá toàn diện các nguồn tác động; các giải pháp đưa ra bảo đảm tính thực tế và khả thi.

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng các thành phần môi trường sinh thái gồm đất, nước, không khí, chất thải rắn sinh hoạt; các tác động phát sinh từ hoạt động du lịch và các hoạt động kinh tế - xã hội khác tới hệ sinh thái tại khu di tích Pác Bó.
  • Phạm vi không gian: Khu di tích lịch sử Pác Bó và khu vực dân cư lân cận (trọng tâm là làng Pác Bó) thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi thời gian: Đợt điều tra thực địa được tiến hành từ ngày 31/09/2015 đến tháng 11/2015; công tác phân tích, xử lý số liệu và hoàn thiện báo cáo diễn ra trong tháng 04 và tháng 05 năm 2016; chuỗi số liệu thứ cấp về chất lượng môi trường và đất đai kế thừa giai đoạn 2013 - 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận thông qua việc đối chiếu các định nghĩa khoa học và văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:

  • Khung khái niệm: Định nghĩa di tích lịch sử, văn hóa theo Luật Di sản văn hóa năm 2001; tiêu chuẩn di tích quốc gia đặc biệt (Pác Bó được xếp hạng ngày 10/05/2012). Định nghĩa môi trường sinh thái, môi trường đất (địa quyển/thạch quyển), môi trường nước (thủy quyển) theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam và các tài liệu của Vũ Trung Tạng (2000), UNESCO (1981). Khái niệm du lịch và du lịch sinh thái được kế thừa từ các định nghĩa quốc tế và trong nước: Hector Ceballos-Lascurain (1987), Boo (1991), Khái niệm Du lịch sinh thái của Úc (1994), Hiệp hội Du lịch sinh thái Hoa Kỳ (1998), Martha Honey (1999), Lê Huy Bá (2000), Luật Du lịch năm 2005, Quy chế quản lý du lịch sinh thái tại vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007).
  • Cơ sở pháp lý: Nghiên cứu vận dụng hệ thống văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm thực hiện gồm: Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 24/2004/QH11; Luật Du lịch số 44/2005/QH11; Luật Đa dạng sinh học năm 2008; Nghị định 80/2006/NĐ-CP và Nghị định 21/2008/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường; Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý động, thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định 126/QĐ-TTg năm 2012 thí điểm chia sẻ lợi ích trong quản lý rừng đặc dụng; Thông tư 43/2013/TT-BTNMT quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT.
  • Cơ sở thực tiễn: Khóa luận kế thừa các tổng kết của Hội đồng Du lịch Thế giới (WTTC, 1993) về áp lực của cơ sở hạ tầng, chất thải du lịch và tác động tiềm tàng đến hệ động thực vật; nghiên cứu bảo vệ môi trường du lịch của PGS. Phạm Trung Lương (2010); nghiên cứu ảnh hưởng du lịch tại Vườn quốc gia Xuân Thủy của ThS. Đặng Văn Huyến (2003); nghiên cứu về thoái hóa đất do phân bón vô cơ của TS. Trần Văn Hiến (2009).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học được triển khai đồng bộ qua 05 phương pháp:

  1. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội, biến động đất đai từ UBND xã Trường Hà; số liệu quản lý và quy hoạch từ Ban Quản lý Khu di tích Pác Bó; chuỗi số liệu quan trắc chất lượng nước định kỳ 2 lần/năm từ Chi cục Bảo vệ Môi trường và Trung tâm Quan trắc Môi trường tỉnh Cao Bằng.
  2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Quan sát hiện trường, ghi nhận vị trí đổ thải, nguồn phát sinh nước thải, tình trạng canh tác nương rẫy, khai thác củi rừng, chụp ảnh tư liệu minh chứng về hiện trạng môi trường khu di tích.
  3. Phương pháp điều tra phỏng vấn bằng phiếu câu hỏi: Thiết kế bảng hỏi cấu trúc nhằm thu thập thông tin định lượng và định tính với cỡ mẫu gồm 70 phiếu:
    • 10 cán bộ quản lý thuộc các bộ phận và khu vực khác nhau trong khu di tích (đánh giá năng lực quản lý, thuận lợi, khó khăn).
    • 30 hộ dân bản địa sinh sống tại làng Pác Bó (khảo sát việc sử dụng tài nguyên, lượng phân bón, ý thức xả thải và nhận định tác động môi trường).
    • 30 khách du lịch tham quan tại thời điểm thực địa (đánh giá chất lượng vệ sinh, cảnh quan, hành vi thải rác).
  4. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi chuyên môn với giảng viên hướng dẫn (ThS. Dương Minh Ngọc) và các cán bộ phụ trách chuyên trách tại Ban Quản lý Khu di tích Pác Bó.
  5. Phương pháp tổng hợp, phân tích xử lý số liệu: Dữ liệu điều tra được kiểm tra chéo nhằm loại bỏ sai lệch, tính toán các chỉ số thống kê bình quân, lập bảng đối chiếu biến động bằng Microsoft Excel và Microsoft Word, so sánh nồng độ các thông số môi trường với QCVN 08:2008/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Đặt vấn đề

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh mối quan hệ biện chứng giữa phát triển du lịch và bảo tồn sinh thái tại các khu di tích văn hóa - lịch sử. Tác giả khẳng định Pác Bó là điểm di tích quốc gia đặc biệt đón lượng khách lớn nhưng chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể nào về tác động môi trường sinh thái. Chương này xác lập hệ thống 04 mục tiêu nghiên cứu, 05 yêu cầu phương pháp luận, đồng thời phân tích ý nghĩa học thuật trong việc rèn luyện năng lực nghiên cứu môi trường và ý nghĩa thực tiễn cung cấp cứ liệu khoa học cho chính quyền địa phương, ban quản lý di tích trong việc hoạch định chính sách bảo vệ tài nguyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về khu di tích lịch sử và vai trò giáo dục truyền thống cách mạng, bảo tồn di sản gắn với danh mục các di tích quốc gia đặc biệt của Việt Nam đến năm 2015. Tác giả phân tích cấu trúc môi trường sinh thái đất (địa quyển, cơ chế trao đổi keo đất và dung dịch đất), môi trường nước (thủy quyển, tuần hoàn nước mặt và nước ngầm), nguyên nhân gây ô nhiễm không khí, đất, nước do giao thông, sinh hoạt và thâm canh nông nghiệp. Phần tổng quan cũng làm rõ sự phát triển của các khái niệm du lịch sinh thái trên thế giới và Việt Nam, trích dẫn báo cáo của WTTC về nguy cơ biến đổi cảnh quan, phá vỡ sinh cảnh động thực vật. Đối với địa bàn tỉnh Cao Bằng, văn bản nêu rõ bức tranh du lịch năm 2015 đón 650.000 lượt khách (35.000 lượt khách quốc tế), tổng doanh thu đạt 115 tỷ đồng (tăng trưởng 18%), đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn về hạ tầng dịch vụ và nhân lực chưa được đào tạo bài bản.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương 3 quy định ranh giới nghiên cứu tại khu di tích lịch sử Pác Bó và khu dân cư xã Trường Hà; xác định thời gian nghiên cứu thực địa từ tháng 09/2015 đến tháng 11/2015 và giai đoạn viết báo cáo tháng 04 - 05/2016. Tác giả mô tả chi tiết 05 nội dung thực hiện (tự nhiên - kinh tế xã hội; quy hoạch khu di tích; hiện trạng môi trường đất, nước, rác thải, tài nguyên; đánh giá tác động của du lịch và nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; đề xuất giải pháp) cùng quy trình phân bổ phiếu điều tra xã hội học (10 cán bộ quản lý, 30 hộ dân bản địa, 30 khách du lịch) và quy trình xử lý dữ liệu kiểm tra chéo so sánh quy chuẩn môi trường.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, thể hiện chi tiết các kết quả khảo sát, thống kê và phân tích qua các tiểu mục:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Trường Hà: Diện tích tự nhiên 30,02 km² (tổng diện tích đất theo thống kê là 2.945,29 ha), dân số 1.604 người với 411 hộ (bình quân 4 người/hộ), mật độ dân số 55 người/km². Địa hình chia cắt phức tạp với hai đai độ cao: 250m - 500m (canh tác lúa, hoa màu) và 500m - 950m (khoanh nuôi bảo vệ rừng đặc dụng). Khí hậu chia 2 mùa, nhiệt độ trung bình 22,4°C, lượng mưa trung bình 1.800 mm/năm (80% lượng mưa tập trung vào tháng 7, 8, 9), độ ẩm trung bình 84%. Thủy văn chịu chi phối bởi dòng suối Lê Nin và các suối nhánh (Bản Hoàng, Khuổi Hoong, Nà Lẹng); có công trình thủy điện Bản Hoàng. Về kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 15,3%, GDP bình quân đầu người đạt 1,4 triệu đồng, cơ cấu kinh tế NN-CN-TMDV lần lượt là 85% - 5% - 10%, tổng thu ngân sách địa phương đạt 255,579 tỷ đồng. Lao động trong độ tuổi có 753 người (chiếm 48% dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm 85% (658 người), lao động phi nông nghiệp chiếm 15% (113 người); 84% lực lượng lao động thuộc độ tuổi từ 18 - 45 tuổi nhưng phần lớn chưa qua đào tạo kỹ thuật.
  • Hiện trạng khu di tích lịch sử Pác Bó: Khuôn viên quy hoạch rộng 500 ha, diện tích sử dụng 295 ha (bao gồm 100 ha đất rừng giao khoán cho hộ dân trực tiếp quản lý). Cụm dân cư làng Pác Bó có 122 hộ với 513 nhân khẩu, chủ yếu là dân tộc Tày và Nùng, trình độ học vấn phổ biến từ lớp 7/10 trở xuống. Hệ thống di tích gồm 42 di tích gốc; quy hoạch tổng thể chia làm 5 phân khu chức năng, trong đó khu dịch vụ du lịch có tổng mức đầu tư hơn 320 tỷ đồng, khu di tích Bác Hồ với chiến dịch Biên giới 1950 đầu tư hơn 10 tỷ đồng.
  • Biến động sử dụng đất xã Trường Hà: Tổng hợp số liệu giai đoạn 2014 - 2015 cho thấy sự dịch chuyển diện tích giữa các nhóm đất.
TT Mục đích sử dụng đất Mã Diện tích năm 2014 (ha) Diện tích năm 2015 (ha) Tăng (+) Giảm (-) (ha)
I Tổng diện tích tự nhiên 2.945,29 2.945,29 0,00
1 Đất nông nghiệp NNP 2.764,24 2.763,10 -1,14
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 233,10 232,10 -1,00
- Đất trồng cây hàng năm CHN 228,89 227,10 -1,79
- Đất trồng cây lâu năm CLN 4,21 4,20 -0,01
1.2 Đất lâm nghiệp LNP 2.527,10 2.527,10 0,00
- Đất rừng đặc dụng RDD 2.527,10 2.527,10 0,00
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 3,40 3,40 0,00
1.4 Đất nông nghiệp khác NKH 0,64 0,50 -0,14
2 Đất phi nông nghiệp PNN 127,82 128,10 +0,28
2.1 Đất ở tại nông thôn ONT 20,20 20,20 0,00
2.2 Đất chuyên dùng CDG 96,82 97,10 +0,28
- Đất có mục đích công cộng CCC 74,52 75,30 +0,78
2.3 Đất sông suối, mặt nước chuyên dùng SMN 9,60 9,60 0,00
2.4 Đất nghĩa trang nghĩa địa NTD 0,40 0,40 0,00
2.5 Đất phi nông nghiệp khác PNK 0,80 0,80 0,00
3 Đất chưa sử dụng CSD 53,23 53,10 -0,13
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 5,47 5,20 -0,27
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 9,77 9,30 -0,47
3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 37,99 38,60 +0,61

(Nguồn: Trích dẫn và tổng hợp từ số liệu UBND xã Trường Hà trong khóa luận)

  • Hiện trạng chất lượng nước, rác thải và tài nguyên: Số liệu quan trắc nước suối Lê Nin tại vị trí đập tràn được theo dõi qua các chỉ tiêu BOD5, COD, DO; chất thải rắn từ du khách chủ yếu là túi ni lông, chai nhựa, hộp xốp phát sinh dọc các lối đi tham quan; 30 hộ dân làng Pác Bó tiêu thụ củi đun phục vụ sinh hoạt hàng tháng gây áp lực lên tầng cây bụi lân cận.
  • Phân tích tác động và giải pháp: Hoạt động du lịch đóng góp vào chuyển dịch thu nhập nhưng phát sinh rác thải bừa bãi và tiếng ồn; canh tác nông nghiệp sử dụng phân hóa học bón thúc và thuốc bảo vệ thực vật trên các sườn dốc thoát nước thẳng ra suối Lê Nin; chăn thả gia súc gia cầm (toàn xã có đàn vật nuôi theo thống kê) làm tăng nguy cơ ô nhiễm vi sinh; hoạt động khai thác gỗ củi và đánh bắt thủy sản bằng kích điện, lưới mắt nhỏ trên suối Lê Nin gây suy giảm quần thể thủy sinh vật. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp phân kỳ cho ban quản lý, khách tham quan và người dân địa phương.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận tổng kết lại các phát hiện chính về áp lực môi trường tại Pác Bó; kiến nghị Ban Quản lý Khu di tích phối hợp chặt chẽ với chính quyền xã Trường Hà tăng cường thùng rác chuyên dụng, cắm biển chỉ dẫn quy chế bảo vệ môi trường, kiểm soát việc sử dụng hóa chất nông nghiệp và xử lý nghiêm các vi phạm khai thác rừng, thủy sản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp được các dữ liệu định lượng và phát hiện cụ thể tại địa bàn nghiên cứu:

  • Hiện trạng tài nguyên và biến động đất đai: Toàn xã Trường Hà có 2.527,96 ha đất lâm nghiệp (chiếm 91,46% nhóm đất nông nghiệp), trong đó 100% là rừng đặc dụng (rừng tự nhiên đặc dụng chiếm 86,61% với 2.189,39 ha; rừng trồng đặc dụng chiếm 13,39% với 338,57 ha). Đất sản xuất nông nghiệp có 233,79 ha (bình quân 0,58 ha/hộ), chủ yếu là đất trồng cây hàng năm (228,89 ha, chiếm 97,87%). Biến động đất đai giai đoạn 2014 - 2015 ghi nhận đất nông nghiệp giảm 1,14 ha (đất sản xuất nông nghiệp giảm 1,00 ha), trong khi đất phi nông nghiệp tăng chủ yếu ở nhóm đất công cộng (tăng 0,78 ha) phục vụ hạ tầng dịch vụ du lịch. Tác giả chỉ ra rằng diện tích đất canh tác giảm thúc đẩy người dân tìm kiếm sinh kế phụ thuộc vào tài nguyên rừng.
  • Áp lực môi trường từ du lịch và sinh kế: Với lưu lượng hơn 25.000 lượt khách/năm, chất thải rắn sinh hoạt phát sinh cục bộ dọc các điểm tham quan chính (hang Cốc Bó, bờ suối Lê Nin, đường lên lán Khuổi Nặm), trong khi công tác thu gom và phân loại rác còn hạn chế. Nguồn nước suối Lê Nin (vị trí quan trắc tại đập tràn) chịu tác động kép từ nước thải sinh hoạt của khách du lịch, chất thải sinh hoạt từ 122 hộ dân làng Pác Bó, và dư lượng phân bón hóa học rửa trôi từ 233,79 ha đất nông nghiệp. Ngoài ra, việc khai thác củi đun phục vụ sinh hoạt của 30 hộ dân điều tra và hiện tượng đánh bắt cá trái phép trên suối Lê Nin làm suy thoái nguồn lợi thủy sản bản địa.
  • Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
    • Đối với Ban Quản lý Khu di tích: Bố trí hệ thống thùng rác phân loại hợp vệ sinh dọc các tuyến tham quan; lắp đặt biển báo cấm vứt rác, cấm đánh bắt thủy sản và cấm bẻ cành hái lượm; xây dựng quy chế phối hợp tuần tra liên ngành giữa ban quản lý và lực lượng kiểm lâm, công an xã Trường Hà; kiểm soát lượng khách vào các ngày lễ cao điểm nhằm tránh vượt tải sức chứa.
    • Đối với khách du lịch: Tuyên truyền thực hiện nghiêm túc quy định giữ gìn vệ sinh môi trường, bỏ rác đúng nơi quy định, không dẫm đạp lên thảm thực vật hoặc khắc vẽ lên các vách đá, hang động di tích.
    • Đối với cộng đồng dân cư: Vận động nhân dân chuyển đổi mô hình canh tác nông nghiệp, hạn chế dùng phân bón vô cơ và thuốc trừ sâu hóa học; phổ biến các biện pháp ủ phân vi sinh, xử lý chất thải chăn nuôi gia súc gia cầm; nghiêm cấm việc dùng kích điện hoặc mắt lưới nhỏ khai thác thủy sản trên dòng suối Lê Nin; tham gia vào tổ bảo vệ rừng đặc dụng được giao khoán (100 ha đất rừng khu di tích).
  • Đóng góp của đề tài: Đây là công trình đầu tiên tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên tiến hành khảo sát thực địa kết hợp điều tra xã hội học chuyên sâu về môi trường sinh thái tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Pác Bó, thiết lập hệ thống số liệu nền về hiện trạng sử dụng đất, nguồn phát sinh chất thải và đánh giá đa chiều từ cán bộ quản lý, người dân bản địa và du khách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn thực tế do chính tác giả nêu rõ trong văn bản:

  • Năng lực nghiên cứu của sinh viên và quỹ thời gian điều tra thực địa còn hạn chế (thời gian khảo sát tập trung từ cuối tháng 09/2015 đến tháng 11/2015), chưa thể bao quát biến động môi trường theo chu kỳ trọn vẹn cả mùa mưa và mùa khô.
  • Cỡ mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở mức 70 phiếu (10 cán bộ quản lý, 30 hộ dân, 30 khách du lịch), mang tính chất thăm dò đại diện cục bộ tại làng Pác Bó chứ chưa mở rộng khảo sát toàn bộ 411 hộ của 7 xóm trong xã Trường Hà.
  • Chuỗi dữ liệu chất lượng nước suối Lê Nin phụ thuộc vào nguồn tài liệu thứ cấp quan trắc 2 lần/năm từ cơ quan chức năng, chưa thực hiện được các đợt tự lấy mẫu đo đạc phân tích tức thời (in-situ) các thông số vi sinh và kim loại nặng.

Hướng nghiên cứu tiếp cận được đề xuất dựa trên phạm vi đề tài:

  • Mở rộng quan trắc tự động hoặc định kỳ đa điểm trên lưu vực suối Lê Nin để đánh giá cụ thể mức độ phú dưỡng hóa và dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật.
  • Nghiên cứu xác định ngưỡng sức chứa du lịch (carrying capacity) sinh thái của khu di tích Pác Bó vào các dịp lễ hội cao điểm nhằm đề xuất phương án điều tiết lượng khách tối ưu.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Du lịch Sinh thái, Quản lý Di sản văn hóa đang thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc tiểu luận nghiên cứu về tác động của du lịch đến khu bảo tồn, di tích lịch sử.
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Cấu trúc phương pháp luận kết hợp giữa thống kê biến động đất đai hành chính với phương pháp điều tra xã hội học phân tầng (cán bộ, người dân, du khách).
    • Hệ thống dữ liệu thực tế về cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp đặc dụng và đất nông nghiệp tại xã biên giới Trường Hà năm 2015.
    • Bộ câu hỏi điều tra khảo sát nhận thức cộng đồng và du khách về tác động môi trường tại các khu di tích lịch sử cách mạng vùng trung du miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu di tích lịch sử Pác Bó có diện tích quy hoạch và diện tích sử dụng thực tế là bao nhiêu? Theo số liệu công bố trong khóa luận, diện tích quy hoạch tổng thể của khu di tích là 500 ha, trong khi diện tích đưa vào sử dụng thực tế là 295 ha. Trong đó, có 100 ha đất rừng chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Quản lý khu di tích dưới hình thức giao khoán cho các hộ dân cư địa phương tự quản lý và bảo vệ.

2. Tác giả đã triển khai điều tra phỏng vấn xã hội học với cỡ mẫu và đối tượng cụ thể như thế nào? Tác giả đã phát phiếu phỏng vấn đối với 70 đối tượng thuộc 03 nhóm:

  • 10 cán bộ quản lý làm việc ở các chức vụ và khu vực khác nhau trong khu di tích Pác Bó.
  • 30 hộ dân bản địa sinh sống trong phạm vi làng Pác Bó (nơi đặt khu di tích).
  • 30 khách du lịch trực tiếp tham quan di tích trong thời gian tác giả thực tập.

3. Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp của xã Trường Hà có điểm gì đặc thù trong số liệu năm 2015? Toàn xã Trường Hà có 2.527,96 ha đất lâm nghiệp, chiếm 91,46% diện tích nhóm đất nông nghiệp. Điểm đặc thù là 100% diện tích đất lâm nghiệp này đều là rừng đặc dụng, bao gồm: 2.189,39 ha đất có rừng tự nhiên đặc dụng (chiếm 86,61%) và 338,57 ha đất có rừng trồng đặc dụng (chiếm 13,39%).

4. Lưu lượng khách tham quan và cơ cấu kinh tế của xã Trường Hà được ghi nhận ở mức nào? Khu di tích lịch sử Pác Bó tiếp đón trung bình trên 25.000 lượt khách tham quan mỗi năm, thành phần chủ yếu là học sinh, sinh viên, cán bộ công nhân viên chức, chính trị gia và một lượng nhỏ khách quốc tế. Về kinh tế địa phương, xã Trường Hà có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 15,3%, GDP bình quân đầu người là 1,4 triệu đồng, cơ cấu ngành NN-CN-TMDV tương ứng là 85% - 5% - 10%.

5. Ngoài hoạt động du lịch, những hoạt động sinh kế nào khác tại địa phương được xác định gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái Pác Bó? Khóa luận xác định 03 hoạt động sinh kế chính gây áp lực lên hệ sinh thái:

  • Sản xuất nông nghiệp: thâm canh sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trên đất dốc rửa trôi xuống nguồn nước.
  • Hoạt động lâm nghiệp: chặt phá cây rừng, khai thác củi đun phục vụ đun nấu sinh hoạt hàng tháng của cư dân.
  • Khai thác thủy sản: tình trạng người dân sử dụng kích điện và công cụ đánh bắt trái phép làm suy giảm các loài thủy sinh trên dòng suối Lê Nin.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Xuân Hồng đã cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng tài nguyên đất đai, chất lượng nguồn nước và các nguồn phát sinh chất thải tại Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Pác Bó, tỉnh Cao Bằng năm 2016. Nghiên cứu chỉ rõ áp lực môi trường sinh thái tại đây xuất phát từ tác động cộng hưởng giữa hoạt động tham quan của hơn 25.000 lượt du khách mỗi năm và các tập quán sinh kế nông - lâm - thủy sản của cư dân bản địa. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn kết trách nhiệm của cơ quan quản lý di tích, chính quyền xã Trường Hà với sự tham gia giám sát của cộng đồng địa phương và ý thức của khách tham quan. Đây là nguồn tư liệu thực địa có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn bền vững cảnh quan sinh thái tại các khu di tích lịch sử cách mạng vùng miền núi phía Bắc.