Đảng Lãnh Đạo Kết Hợp Đấu Tranh Chính Trị với Đấu Tranh Quân Sự ở Miền Nam từ 1961 đến 1968

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ở miền nam từ năm 1961 đến năm, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

125
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở MIỀN NAM (1961-1965)

1.1. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và chủ trương của Đảng về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ở miền Nam

1.2. Đảng chỉ đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự chống chiến lược "chiến tranh đặc biệt"

2. CHƯƠNG 2: ĐẨY MẠNH KẾT HỢP ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ CHỐNG CHIẾN LƯỢC "CHIẾN TRANH CỤC BỘ" CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (1965 - 1968)

2.1. Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến và chủ trương đẩy mạnh kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự của Đảng (1965 - 1968)

2.2. Đảng chỉ đạo đẩy mạnh kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự chống chiến lược "chiến tranh cục bộ"

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Một số nhận xét

3.2. Kinh nghiệm lịch sử

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng Lãnh Đạo Kết Hợp Đấu Tranh Chính Trị và Quân Sự

Trong giai đoạn 1961-1968, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự ở miền Nam nhằm đối phó với chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ. Sự lãnh đạo này không chỉ thể hiện sự nhạy bén trong việc nắm bắt tình hình mà còn khẳng định vai trò quyết định của Đảng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng đã đưa ra những chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với thực tiễn chiến trường, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến.

1.1. Bối cảnh lịch sử và chính trị ở miền Nam 1961 1968

Giai đoạn này chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc ở miền Nam. Đế quốc Mỹ đã áp dụng chiến lược "chiến tranh đặc biệt" nhằm đàn áp phong trào này. Đảng đã phân tích tình hình và đưa ra những chủ trương kết hợp đấu tranh chính trị với quân sự để đối phó hiệu quả với âm mưu của kẻ thù.

1.2. Vai trò của Đảng trong việc lãnh đạo kết hợp đấu tranh

Đảng đã xác định rõ ràng vai trò của mình trong việc lãnh đạo kết hợp giữa đấu tranh chính trị và quân sự. Sự lãnh đạo này không chỉ giúp củng cố lực lượng cách mạng mà còn tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân, từ đó nâng cao sức mạnh kháng chiến.

II. Thách thức trong việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự

Việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự ở miền Nam trong giai đoạn 1961-1968 không phải là điều dễ dàng. Đảng đã phải đối mặt với nhiều thách thức từ cả bên trong và bên ngoài. Những khó khăn này đã đặt ra yêu cầu cao về sự sáng tạo và linh hoạt trong lãnh đạo.

2.1. Những khó khăn từ chiến lược chiến tranh đặc biệt

Chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ đã tạo ra nhiều khó khăn cho phong trào cách mạng. Đế quốc Mỹ đã sử dụng nhiều biện pháp quân sự và chính trị để đàn áp phong trào, gây ra không ít khó khăn cho Đảng trong việc tổ chức và lãnh đạo.

2.2. Thách thức từ sự phân hóa trong lực lượng cách mạng

Trong bối cảnh chiến tranh, sự phân hóa trong lực lượng cách mạng cũng là một thách thức lớn. Đảng đã phải tìm cách đoàn kết các lực lượng khác nhau, từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp cho cuộc kháng chiến.

III. Phương pháp kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự hiệu quả

Đảng đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự, từ việc tổ chức các phong trào quần chúng đến việc xây dựng lực lượng vũ trang. Những phương pháp này đã chứng minh được tính hiệu quả trong thực tiễn.

3.1. Tổ chức phong trào quần chúng

Đảng đã tổ chức nhiều phong trào quần chúng nhằm huy động sức mạnh của nhân dân. Những phong trào này không chỉ tạo ra sức ép lên kẻ thù mà còn củng cố tinh thần đấu tranh của nhân dân.

3.2. Xây dựng lực lượng vũ trang

Việc xây dựng lực lượng vũ trang là một trong những phương pháp quan trọng trong việc kết hợp đấu tranh. Đảng đã chú trọng đến việc đào tạo, trang bị cho lực lượng vũ trang, từ đó nâng cao khả năng chiến đấu.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ cuộc kháng chiến

Kết quả của việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự đã mang lại những thành công lớn cho cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những bài học kinh nghiệm từ giai đoạn này vẫn còn giá trị cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

4.1. Thành công trong việc giành lại độc lập

Việc kết hợp đấu tranh đã giúp nhân dân miền Nam giành lại độc lập, tự do. Những thắng lợi này không chỉ có ý nghĩa lịch sử mà còn là động lực cho các thế hệ sau.

4.2. Bài học kinh nghiệm cho hiện tại

Những bài học từ giai đoạn 1961-1968 vẫn còn nguyên giá trị. Đảng cần tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong việc lãnh đạo, chỉ đạo các nhiệm vụ hiện nay.

V. Kết luận và triển vọng tương lai

Cuộc kháng chiến chống Mỹ đã để lại nhiều bài học quý báu cho Đảng và nhân dân. Việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự không chỉ là một chiến lược trong quá khứ mà còn là một phương pháp cần thiết cho tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của sự lãnh đạo của Đảng

Sự lãnh đạo của Đảng trong việc kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự là yếu tố quyết định cho mọi thắng lợi. Đảng cần tiếp tục phát huy vai trò này trong mọi giai đoạn.

5.2. Hướng đi cho tương lai

Trong bối cảnh hiện nay, việc kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc là rất quan trọng. Những bài học từ quá khứ sẽ là nền tảng cho những quyết sách đúng đắn trong tương lai.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng lãnh đạo kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ở miền nam từ năm 1961 đến năm 1968

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐẢNG LÃNH ĐẠO KẾT HỢP ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ VỚI ĐẤU TRANH QUÂN SỰ CHỐNG CHIẾN LƯỢC “CHIẾN TRANH ĐẶC BIỆT” CỦA ĐẾ QUỐC MỸ Ở MIỀN NAM (1961-1965) 1. Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ và chủ trương của Đảng về kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh quân sự ở miền Nam 1. Tình hình thế giới và âm mưu của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trong những năm đầu thập kỷ 60 * Tình hình thế giới: Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, tình hình thế giới có nhiều thay đổi, diễn biến phức tạp, tác động mạnh mẽ tới cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam. Ba trào lưu cách mạng thế giới ( sự lớn mạnh của hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản) luôn phát triển ở thế tiến công toàn diện, đẩy chủ nghĩa đế quốc vào thế bị động và thất bại liên tiếp.

Thắng lợi của Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã mở ra một thời kỳ mới, mà đặc điểm nổi bật của nó là: Chủ nghĩa xã hội đã vượt khỏi phạm vi một nước, trở thành một hệ thống thế giới lớn mạnh nhanh chóng làm chỗ dựa vững chắc cho cuộc đấu tranh chung của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Với bản chất tốt đẹp của mình, chủ nghĩa xã hội trở thành đích đến, trụ cột của nhiều quốc gia. Đồng thời, sự phát triển vượt bậc của các nước xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực đã làm thay đổi tương quan lực lượng cách mạng thế giới, góp phần to lớn vào việc bảo vệ nền hòa bình, dân chủ. "Đến đầu năm 1960 nền kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa đã chiếm vị trí đáng kể trong nền kinh tế thế giới (38%)" [60, tr.

Khoa học kỹ thuật phát triển và giành được những thành tựu quan trọng, đặc biệt là về quân sự. Không chỉ dừng ở việc chế tạo thành công bom 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tử (1949), đến năm 1961, Liên Xô đã phóng vệ tinh nhân tạo và phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo trái đất. Do đó, không những nâng cao uy tín của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa trên trường quốc tế, mà quan trọng hơn là đã tạo thêm thế mới cho sự nghiệp bảo vệ hòa bình thế giới. Đồng thời, cũng buộc chủ nghĩa đế quốc, mà trước hết là Mỹ phải thay đổi chiến lược toàn cầu của mình.

Đây cũng là thời kỳ mà nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh mạnh mẽ cho những mục tiêu cao cả. Các nước thuộc địa ở Á, Phi, Mỹ La tinh lần lượt đứng lên giành độc lập, phá vỡ và thu hẹp hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Năm 1960, đã có 17 nước châu Phi (Camarun, Xenegan, Conggo, Xomali, .) giành được thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. "Cho đến cuối năm 1964, trên 1.5 tỷ người của ba lục địa này đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân.

Trên 60 nước độc lập trẻ tuổi đã bước lên vũ đài chính trị quốc tế, với tư cách là những quốc gia có chủ quyền"[60 , tr. Mặt khác, các nước thuộc địa cũng đoàn kết với nhau trong phong trào Không liên kết để chống kẻ thù chung. Với những hoạt động tích cực, nó đã tạo thành một lực lượng chính trị vô cùng rộng rãi trên trường quốc tế, vừa tăng sức cổ vũ cho cách mạng miền Nam, vừa làm suy yếu và phân tán lực lượng của chủ nghĩa đế quốc. Vì vậy, dòng thác cách mạng giải phóng dân tộc trong những năm 1960 thực sự trở thành đồng minh, hỗ trợ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta.

Cùng với hệ thống xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng dân tộc còn có phong trào đấu tranh đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, hòa bình và tiến bộ xã hội của công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản cũng phát triển mạnh mẽ. Điều đó, làm cho đế quốc không thể tùy ý quyết định có hay không có chiến tranh như trước. Do đó, nó trở thành một dòng thác cách mạng đánh vào chính sách phản động của chủ nghĩa đế quốc và đẩy chủ nghĩa tư bản rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Ngoài ra, vào những năm đầu của thập kỷ 60, đế quốc Mỹ cũng phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế (1960 -1961).

Hậu quả của nó là làm "5,5 triệu người 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thất nghiệp, dự trữ vàng giảm xuống 15.8 triệu USD năm 1963"[60, tr. Tổng thống Mỹ G. Kennodi, cũng khẳng định: "Mỹ là nước tài nguyên giàu có nhất thế giới, nhưng lại là một trong những nước tư bản có tốc độ phát triển kinh tế thấp nhất" [60, tr. Khó khăn này đã làm đau đầu nhiều đời tổng thống, và nó cũng chi phối nhất định tới các chính sách quân sự của Mỹ.

Phong trào chống Mỹ cũng ngày càng lên mạnh ở các châu lục. Do đó, trong chiến tranh ở Việt Nam, Mỹ sẽ gặp phải sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân lao động. Bên cạnh những thuận lợi, tình hình thế giới cũng đưa đến những khó khăn đối với cách mạng Việt Nam. Trước hết, nhờ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Mỹ vượt lên về sức mạnh vật chất - kỹ thuật và quân sự, đã nhảy ra đóng vai trò “sen đầm” quốc tế, hòng cứu vãn chủ nghĩa đế quốc.

Tính đến năm 1960, Mỹ đã có "đội quân gồm 2.5 triệu người, 104 liên đội máy bay, ném bom hạng trung, gần 40 liên đội máy bay ném bom hạng nặng, 400 máy bay B52, 1.400 máy bay B57, 110 tàu ngầm trong đó có 32 chiếc được trang bị tên lửa chiến lược thế hệ mới" [52, tr. Vì vậy, trong cuộc chiến ở Việt Nam, đế quốc Mỹ luôn sử dụng các vũ khí hiện đại, tối tân và tăng cường viện trợ cho quân đội và chính quyền Sài Gòn. Trong khi chưa có tiềm lực để thực hiện một cuộc chiến tranh nóng nhằm tiêu diệt chủ nghĩa xã hội, thì chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ đã phát động một cuộc chiến tranh lạnh. Để trở thành bá chủ thế giới, Mỹ đã tiến hành chiến lược toàn cầu, với những phương tiện khổng lồ và thủ đoạn tàn bạo, quỷ quyệt.

Từ chỗ chuẩn bị chiến tranh bằng vũ khí hạt nhân nhằm đánh thẳng vào phe xã hội chủ nghĩa là chủ yếu, Mỹ chuyển sang dùng chiến tranh hạn chế bằng vũ khí thông thường. Do đó, Mỹ tiến công trực tiếp vào phong trào giải phóng dân tộc và áp đặt chủ nghĩa thực dân mới đối với các nước thuộc địa. Mỹ lựa chọn Việt Nam là nơi thử nghiệm chiến lược này, bởi đây là nơi diễn ra cuộc cách mạng giải phóng dân tộc triệt để nhất và ảnh hưởng của nó đã vượt ra ngoài phạm vi Đông Dương. Đồng thời, đây cũng là nơi mà "Nếu Mỹ rút khỏi cuộc xung đột ở miền Nam thì sự sụp đổ không những ở miền 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nam Việt Nam mà cả toàn bộ vùng Đông Nam Á" [60, tr.

Bởi, theo Mỹ miền Nam Việt Nam là nơi có nguy cơ phá vỡ "chiến lược vành đai" của chúng. Cũng trong giai đoạn này, khi nhân dân Việt Nam đang bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khó khăn, thì trong nội bộ hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc đã diễn ra những mâu thuẫn và bất đồng gay gắt về chiến lược, sách lược, phương pháp đấu tranh chống đế quốc và các thế lực phản động. Mặt khác, để củng cố vị trí của mình là nước xã hội chủ nghĩa đích thực, hai nước Xô - Trung đã có những chính sách khác nhau nhằm tranh giành ảnh hưởng đối với Việt Nam. Điều đó tạo cơ hội cho chủ nghĩa đế quốc lợi dụng, chia rẽ và làm suy yếu phong trào cách mạng thế giới.

Chính vì vậy, đòi hỏi Đảng trong giai đoạn này phải khéo léo xử lý quan hệ đối ngoại để có thể tranh thủ mọi sự giúp đỡ. Cùng với những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, thì ở Việt Nam, đế quốc Mỹ đang thực hiện âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ quân sự tấn công miền Bắc và ngăn chặn làn sóng xã hội chủ nghĩa phát triển ở khu vực Đông Nam Á. * Âm mưu của đế quốc Mỹ trong chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam Việt Nam Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn mới với đặc điểm nổi bật là đất nước tạm chia cắt làm hai miền, với hai chế độ chính trị, xã hội khác nhau: miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thống nhất nước nhà. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên bộ máy chính quyền độc tài phát xít Ngô Đình Diệm.

Đồng thời, thông qua hệ thống cố vấn và viện trợ của Mỹ chúng đã tiến hành hàng loạt các thủ đoạn "tố cộng", "diệt cộng", ban hành Luật 10-59,. nhằm đàn áp và tiêu diệt lực lượng cách mạng ở miền Nam. Đây là thời 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỳ mà cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức để chống lại kẻ thù hùng mạnh, tàn bạo, trong khi lực lượng cách mạng nhỏ yếu. Bởi theo hiệp định Giơnevơ thì cán bộ cách mạng và bộ đội nước ta phải tập kết ra miền Bắc.

Đứng trước yêu cầu bức thiết của cách mạng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị lần thứ 15 (1/1959), thông qua nghị quyết về đường lối cách mạng miền Nam, đưa đến thắng lợi của phong trào Đồng khởi. Thắng lợi của cao trào Đồng khởi mùa Xuân 1960 đã giáng một đòn nặng nề vào chế độ Mỹ - Diệm. Nó mở ra một cục diện mới cho cách mạng miền Nam: từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công liên tục. Điều đó thể hiện tư duy sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong việc xác định hình thức và phương pháp cách mạng.

Đồng thời, cũng đặt ra vấn đề sau khởi nghĩa: làm thế nào bảo vệ được quyền làm chủ đã giành được, đấu tranh vũ trang có còn là vị trí hỗ trợ hay phải được đặt ngang hàng với đấu tranh chính trị?

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ