Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG MAĐRIT ĐĂNG KÝ QUỐC TẾ NHÃN HIỆU 1. Tầm quan trọng của việc bảo hộ Nhãn hiệu Trong cuộc sống hàng ngày, khi chọn mua một hàng hoá hay quyết định sử dụng một dịch vụ, người mua thường có nhiều tiêu chí để lựa chọn: đó là giá cả, nhưng cũng có thể đó là chất lượng của hàng hoá/dịch vụ hoặc uy tín của nhà sản xuất. Đối với những hàng hoá/dịch vụ mà người mua tin tưởng vào chất lượng của hàng hoá/dịch vụ hay uy tín/cam kết của nhà sản xuất, sự phân biệt với các hàng hoá/dịch vụ khác được ghi trên hàng hoá/dịch vụ bằng những dấu hiệu riêng biệt của nhà sản xuất. Dấu hiệu này chính là nhãn hiệu.
Nhãn hiệu là dấu hiệu mà một doanh nghiệp sử dụng đối với hàng hoá/dịch vụ của mình để phân biệt hàng hoá cùng loại của các doanh nghiệp khác. Theo luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam, dấu hiệu này có thể là “từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc” (Luật sở hữu trí tuệ, Điều 72 Khoản 1). Nhãn hiệu đã tồn tại từ thời cổ đại. Ngay từ thời điểm con người còn tự cung tự cấp những gì họ cần cho bản thân nhiều hơn là mua chúng từ những người thợ thủ công địa phương, có những thương gia sáng tạo đã biết bán hàng hoá của mình vượt ra ngoài địa phương mình sinh sống và thậm chí tới những vùng rất xa.
Các đồ gốm cổ của Trung Quốc, Ai-cập, La Mã, và Hy Lạp có một số dấu hiệu cho thấy quyền sở hữu. Cách đây 3000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng chạm khắc chữ ký của mình trên các tác phẩm nghệ thuật trước khi gửi hàng tới Iran. Các nhà sản xuất Trung Quốc đã bán hàng hoá mang nhãn hiệu của mình tại khu vực Địa Trung Hải hơn 2000 năm trước đây. Nhãn hiệu Fortis được sử dụng cho đèn dầu bằng gốm đã được tìm thấy trong các đế chế La Mã.
Fortis là nhãn hiệu thời thượng nhất trong số các nhãn hiệu cho đồ gốm và các sản phẩm mang nhãn hiệu này sử -6- z dụng cho đến cuối thế kỷ thứ hai trước Công nguyên [29]. Nhãn hiệu này đã trở nên nổi tiếng đến nỗi bị sao chép và sử dụng, đăng ký cho nhiều loại hàng hoá/dịch vụ đa dạng sau đó (Theo cơ sở dữ liệu đăng ký nhãn hiệu của Benelux, tính đến 15/12/2010, đã có 101 đơn nhãn hiệu “FORTIS” đã đăng ký theo hệ thống Mađrit, Nhãn hiệu cộng đồng (CTM) và Benelux được nộp bởi các cá nhân, tổ chức từ các quốc gia khác nhau, đăng ký cho các hàng hoá/dịch vụ khác nhau, chẳng hạn: chế phẩm sinh học, đồ gia dụng, điện tử, lương thực thực phẩm, đồng hồ, ôtô, quần áo, vật liệu xây dựng, bia rượu, quản lý doanh nghiệp, bảo hiểm, ngân hàng, đào tạo, v. Tại Mỹ, số lượng đăng ký Nhãn hiệu “Fortis” hay “Fortis và các yếu tố khác” là 140 [75]. Tại Nhật bản, số lượng đăng ký quốc gia Nhãn hiệu “Fortis” là 12, chưa kể các đơn đăng ký riêng cho các phương án phiên âm của nhãn hiệu này bằng tiếng Nhật [81]).
Nhờ việc kinh doanh phát đạt thời Trung Cổ mà việc sử dụng các dấu hiệu để phân biệt hàng hoá của các thương gia và các nhà sản xuất đã khá phát triển. Tuy vậy, tầm quan trọng về mặt kinh tế của nhãn hiệu vẫn còn hạn chế. Nhãn hiệu FORTIS Hình 1. Nhãn hiệu FORTIS của một số hãng uy trên chiếc đèn dầu bằng gốm cổ tín trên thế giới hiện nay -7- z Nhãn hiệu bắt đầu đóng một vai trò quan trọng với công cuộc công nghiệp hoá và từ đó trở thành một yếu tố quan trọng trong thế giới hiện đại của thương mại quốc tế và nền kinh tế thị trường.
Công nghiệp hoá và sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường cho phép các nhà sản xuất và các thương gia cạnh tranh đưa đến người tiêu dùng sự lựa chọn đa dạng cho hàng hoá/dịch vụ cùng chủng loại. Do vậy, hàng hoá/dịch vụ phải được đặt tên và phương tiện để đặt tên hàng hoá/dịch vụ trên thị trường chính là nhãn hiệu. Mục đích của nhãn hiệu là để phân biệt hàng hóa/dịch vụ của nhà sản xuất hàng hoá/ nhà cung cấp dịch vụ này với hàng hóa/ dịch vụ của nhà sản xuất hàng hoá/nhà cung cấp dịch vụ kia. Nhãn hiệu có thể là một từ, chữ cái, hình dạng, chữ ký, bao gói, nhãn sản phẩm, sự kết hợp màu sắc và bất cứ hình thức thể hiện nào.
Nhãn hiệu chỉ cho công chúng biết rằng sản phẩm/dịch vụ thuộc về một nguồn gốc cụ thể và có chất lượng nhất định. Việc lựa chọn các hàng hóa có thể được dựa trên cơ sở chất lượng, giá cả hay bất cứ điều gì thu hút người tiêu dùng sản phẩm đó. Nhãn hiệu có vai trò quan trọng để phát triển kinh doanh của doanh nghiệp và uy tín của công ty liên quan mật thiết với nhãn hiệu. Bảo hộ nhãn hiệu là vô cùng cần thiết trong nền kinh tế thị trường.
Trước kia, khi chưa có luật bảo hộ nhãn hiệu tại hầu hết các quốc gia, nhãn hiệu được bảo hộ theo “thông lệ” hay “án lệ”. Từ thế kỷ thứ mười tám trở về trước, sản phẩm thường bị hạn chế quá cục bộ trong một phạm vi nhỏ hẹp. Cuộc cách mạng công nghiệp ở thế kỷ thứ mười tám và thế kỷ thứ mười chín không những chỉ thúc đẩy nền kinh tế mà còn thiết lập nên vai trò của hệ thống sở hữu công nghiệp. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, khoa học, giao thông vận tải, sản xuất và truyền thông đã đưa sản phẩm/dịch vụ của một quốc gia vượt ra ngoài biên giới của nước đó.
Giao dịch thương mại quốc tế dẫn đến nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài ngày càng được các nhà sản xuất/các nhà cung cấp dịch -8- z vụ quan tâm để tránh nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Điều này tạo ra sự cần thiết của việc bảo vệ hộ hữu trí tuệ trên toàn cầu. Các nhà sản xuất nước ngoài thờ ơ với việc đưa sản phẩm của mình tham gia các triển lãm quốc tế tổ chức vào các năm 1855 và 1867 ở Paris vì không đủ công cụ và cơ sở pháp lý để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của mình ở nước ngoài. Năm 1873, Chính phủ Áo đã thông qua quy định tạm thời để bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và sáng chế cho các nhà sản xuất nước ngoài để tạo điều kiện cho họ có thể tham gia vào các cuộc triển lãm.
Và điều này, có lẽ là, sáng kiến đầu tiên cho hệ thống đăng ký quốc tế. Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một trong những điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí tuệ, được ký tại Pari (Pháp) vào 20/3/1883. Khởi đầu, công ước được ký bởi 11 quốc gia. Sau đó, công ước được sửa đổi vào các năm 1900, 1911, 1925, 1934, 1958, 1967 và 1979.
Tính đến nay, Công ước Pari đã có 173 quốc gia thành viên với sự gia nhập gần đây nhất là Thái Lan (2/8/2008), Việt Nam gia nhập công ước này ngày 8/3/1949. Xuất phát từ chức năng và vai trò của nhãn hiệu của hàng hoá/dịch vụ trên thị trường, có thể đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu như sau: "Nhãn hiệu là bất kỳ dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá hoặcdịch vụ của doanh nghiệp này với hàng hoá hoặcdịch vụ của đối thủ cạnh tranh". Đây là cách tiếp cận được lựa chọn tại Mục 1(1)a của Luật Mẫu WIPO về Nhãn hiệu, Tên thương mại và Cạnh tranh không lành mạnh cho các nước phát triển năm 1967 (“Luật Mẫu”) và được sử dụng thống nhất trong các điều ước quốc tế như Thoả ước Mađrit và Nghị định thư Mađrit về đăng ký quốc tế Nhãn hiệu, Thoả ước Nice về phân loại hàng hoá và dịch vụ nhằm mục đích đăng ký Nhãn hiệu, Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan tới sở hữu trí tuệ (gọi tắt là Hiệp định TRIPS. Điều 15, đoạn 1 của Hiệp định này quy định “Bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng -9- z hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu”).
Để hoàn thành được chức năng phân biệt hàng hoá/dịch vụ với mục đích cho người tiêu thực hiện được sự lựa chọn của mình giữa hàng hóa khác nhau, dịch vụ cùng loại trên thị trường, nhãn hiệu phải được bảo vệ về mặt pháp lý. Nếu không, đối thủ cạnh tranh có thể sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho cùng một hàng hoá, dịch vụ hoặc các dấu hiệu như vậy tương tự mà người tiêu dùng sẽ bị nhầm lẫn là nguồn gốc của họ. Một người tiêu dùng khi đã mua nhầm hàng hoá/dịch vụ giả mạo thường không nhận ra rằng các sản phẩm mà họ đã mua không phải có nguồn gốc như đã được chỉ dẫn bởi nhãn hiệu và có thể có xu hướng quy kết chủ sở hữu của nhãn hiệu chính hãng phải chịu trách nhiệm nếu hàng hoá/dịch vụ không đáp ứng các tiêu chuẩn mà người tiêu dùng đã biết tới đối với hàng hoá/dịch vụ đó. Tuy nhiên, ngay cả khi người tiêu dùng nhận ra được rằng ông đã bị mua nhầm sản phẩm/dịch vụ giả mạo hoặc một sản phẩm/dịch vụ khác do chỉ dẫn từ một nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn được sử dụng cho các sản phẩm dự kiến mua, người đó cũng khó có thể có hành động chống lại nhà sản xuất/cung cấp dịch vụ đã xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu chính hãng.
Do đó, điều tất yếu là: chủ sở hữu của một nhãn hiệu được bảo hộ phải có quyền ngăn chặn đối thủ cạnh tranh không được sử dụng nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn cho hàng hoá/dịch vụ trùng lặp hoặc tương tự. Đây chính là “độc quyền” của chủ sở hữu của nhãn hiệu được công nhận rộng rãi trên toàn thế giới, trong luật pháp của từng quốc gia và các điều ước quốc tế, đặc biệt phải nhắc tới là Điều 16 Hiệp định TRIPS “Chủ sở hữu nhãn hiệu đã đăng ký phải có độc quyền ngăn cấm những người không được phép của mình sử dụng trong hoạt động thương mại các dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng hoá hoặc dịch vụ trùng hoặc tương tự với những hàng hoá hoặc dịch vụ được -10- z đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng như vậy có nguy cơ gây nhầm lẫn.