CHƯƠNG 1: LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH TRONG LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái quát về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử 1. Khái niệm đăng ký kinh doanh ngành nghề có điều kiện Hiện nay pháp luật Việt Nam có quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện trong các văn bản pháp luật cụ thể như Hiến pháp, Luật chuyên ngành và các văn bản dưới luật khác do cơ quan có thẩm quyền hoạt động trong từng lĩnh vực nhất định ban hành. Hiến pháp năm 2013 có quy định “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”1.
Có nghĩa là pháp luật đã ghi nhận quyền tự do kinh doanh của công dân khi thực hiện hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực mà pháp luật cho phép, đồng thời các nội dung của quyền tự do kinh doanh thì các chủ thể khi tham gia phải tuân thủ các điều kiện mà pháp luật quy định, phải thực hiện một số nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Luật Doanh nghiệp 2020 đã quy định quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề pháp luạt không cấm“Tự do kinh doanh ngành, nghề mà luật không cấm”2. Quyền tự do kinh doanh đã quy định rất cụ thể, các doanh nghiệp có toàn quyền tự chủ trong kinh doanh, toàn quyền lựa chọn về hình thức kinh doanh toàn quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh cũng như chủ động điều chỉnh mô hình kinh doanh cho phù hợp với quy định của pháp luật. Luật Đầu tư 2020 cũng khẳng định “Nhà đầu tư có quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm3”.
Tuy nhiên, bởi vì các lý do liên quan đến quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên có một số ngành nghề nhà đầu tư không được kinh doanh và tùy thuộc vào đặc điểm của các lĩnh vực khác nhau mà khi các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh ngành nghề có điều kiện phải đáp ứng một số điều kiện nhất định. Vì vậy, khái niệm về đăng ký kinh doanh ngành, nghề có điều kiện có thể hiểu là “ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, 1 Điều 33 Hiến Pháp 2013. 2 Điều 7 Luật doanh nghiệp 2020. 3 Khoản 1 Điều 5 Luật Đầu tư 2020.
nghề đó phải đáp ứng điều kiện cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Khái niệm, đặc điểm của đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử a. Khái niệm về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử Thương mại điện tử có rất nhiều thuật ngữ chỉ định nghĩa bản chất của thương mại điện tử là các hoạt động thông qua nền tảng di động như internet. Thương mại điện tử (Electronic Commerce – EC or E) là một khái niệm được dùng để mô tả quá trình mua và bán hoặc giao dịch sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua mạng máy tính, kể cả internet.
Kinh doanh điện tử (Electronic business – E.business) là chu kỳ kinh doanh, tốc độ kinh doanh, toàn cầu hóa, nâng cao năng xuất, tiếp cận khách hàng mới và chia sẻ kiến thức giữa các tổ chức nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh. Hoặc đơn giản hơn thương mại điện tử chỉ là việc tiến hành các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử trên thiết bị di động. Tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP có quy định “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”5. Hoạt động thương mại điện tử là hoạt động thương mại được thực hiện thông qua phương tiện điện tử, các phương tiện điện tử này bao gồm: điện thoại, fax, truyền hình, điện thoại không dây, các mạng máy tính có kết nối với nhau,… và mạng Internet.
Các phương tiện điện tử này dùng để giao dịch và lưu trữ thông tin, giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng các phương tiện điện tử. Thương mại điện tử thực chất là việc ứng dụng các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh thương mại vì vậy để đảm bảo an toàn pháp lý cho những hoạt động này thì những nhà làm luật sẽ phải tập chung điều chỉnh những quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực này. Nhà nước phải xây dựng ban hành các quy định chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử. 4 Trường đại học Luật ĐĂK LĂK (2018), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, tr 49.
5 Khoản 1 điều 3 Nghị định 52/2013 NĐ-CP về thương mại điện tử. Rộng hơn nữa thì thương mại điện tử không chỉ dừng lại ở việc mua bán hàng hóa và dịch vụ mà nó còn là cầu nối trung gian cho các doanh nghiệp giao dịch hàng hóa. Dưới góc độ doanh nghiệp thì “Thương mại điện tử là việc thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán hàng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử”.6 Từ những phân tích như trên thì có thể hiểu khái niệm về pháp luật thương mại điện tử như sau: “Pháp luật thương mại điện tử là tổng hợp các nguyên tắc, quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể là các cá nhân, tổ chức thực hiện các hoạt động thương mại được thực hiện một phần hay toàn bộ quy trình thương mại bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hay các mạng mở khác”7. Các quan hệ phát sinh trong hoạt động thương mại điện tử đều được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ lợi ích của nhà nước quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử.
Đặc điểm về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử Đặc điểm của hoạt động thương mại điện tử gồm có những đặc điểm như hình thức, phạm vi hoạt động, chủ thể tham gia và về thời gian thực hiện giao dịch8. Thứ nhất, về hình thức thực hiện: Hình thức hoạt động của thương mại điện tử rất đa dạng ngoài việc gặp nhau trực tiếp giống như thương mại điện tử truyền thống thì người bán và người mua cũng có thể không cần gặp nhau mà vẫn giao dịch thành công. Chỉ cần có mạng viễn thông và thiết bị di động thì các hoạt động thương mại điện tử được thực hiện. Trong hoạt động thương mại truyền thống, các giao dịch điện tử được tiến hành chủ yếu thông qua việc đàm phán các bên gặp gỡ nhau trực tiếp sau đó tiến tới giao dịch và đi tới ký kết hợp đồng.
6 Bài cử nhân trực tuyến ôn thi quốc tế TOPICIA, Bài 1: tổng quan về thương mại điện tử, tr 3. 7 Luận án tiến sĩ Lê Văn Thiệp (2020), pháp luật về thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay. Nguồn: https://drive.com/file/d/1SkkJsxTvDXSZdHN1U017wLg5KtjdjDCm/view. 8 Lê Minh Trường (2021), Hoạt động thương mại điện tử là gì ? Đặc điểm, phân loại hoạt động thương mại điện tử.
Nguồn: https://luatminhkhue.vn/hoat-dong-thuong-mai-dien-tu-la-gi-dac-diem-phan-loai- hoat-dong-thuong-mai-dien-tu. Thứ hai, về phạm vi hoạt động: Thông qua các phương tiện điện tử, hoạt động thương mại được thực hiện không phụ thuộc vào vị trí địa lý, thời gian thực hiện. Các chủ thể tiến hành tham gia hoạt động thương mại điện tử ở phạm vi rất rộng chỉ cần tự do thỏa thuận không trái quy định của pháp luật. Do đó không giới hạn phạm vi hoạt động chỉ cần có mạng Internet và thông tin người bán là có thể diễn ra giao dịch thương mại điện tử.
Thứ ba, về chủ thể tham gia: Trong hoạt động thương mại truyền thống, khi thực hiện giao dịch phải có ít nhất hai chủ thể tham gia đó là người mua-người bán, người cung cấp dịch vụ-người nhận dịch vụ. Ngoài ra, trong một số trường hợp đặc biệt khi tham gia giao dịch thương mại điện tử liên quan đến an ninh, bảo mật bí mật của doanh nghiệp còn cần phải có thêm cơ quan, tổ chức hoặc một bên thứ ba đáng tin cậy có thẩm quyền chứng thực. Theo quy định của pháp luật hiện hành về hoạt động thương mại điện tử, các chủ thể của tham gia hoạt động thương mại điện tử bao gồm: “Các thương nhân, tổ chức, cá nhân thiết lập website thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng). Các thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.
Các thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho người sở hữu website thương mại điện tử bán hàng và cho thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (thương nhân, tổ chức cung cấp hạ tầng). Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng website của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình (người bán). Các thương nhân, tổ chức, cung cấp hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ logistics và các dịch vụ hỗ trợ khác cho hoạt động thương mại điện tử. Các thương nhân, tổ chức, cá nhân sử dụng thiết bị điện tử có nối mạng khác để tiến hành hoạt động thương mại”.9 9 Khoản 6 Điều 1 Nghị định 85/2021 NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Khoản 1, Khoản 3 và Khoản 5 Điều 24 Nghị định 52/2013 về thương mại điện tử.
Thứ tư, về thời gian thực hiện giao dịch: Nhờ công nghệ hiện đại và các phương tiện điện tử tân tiến thì việc sử dụng các giao dịch thương mại điện tử được thực hiện không còn phụ thuộc vào thời gian. Điều này giúp ích rất nhiều là một lợi thế quan trọng của hoạt động thương mại điện tử. Lợi thế này giúp người tham gia giao dịch tiết kiệm thời gian, chi phí và tự chủ một số bước trong giao dịch thương mại điện tử như mua hàng trực tuyến; xóa bỏ sự chênh lệch về múi giờ thời gian giữa các quốc gia trên thế giới. Do đó, chúng ta có thể sống ở bất cứ nơi nào, vào bất kì thời điểm nào các cá nhân, doanh nghiệp vẫn tiến hành được các hoạt động giao dịch thương mại điện tử một cách bình thường.