Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ và trở thành một trong những lĩnh vực tiên phong của nền kinh tế số. Theo số liệu được tác giả trích dẫn từ Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, năm 2020 cả nước có khoảng 49,3 triệu người tiêu dùng tham gia mua sắm trực tuyến. Dưới tác động của đại dịch Covid-19, thói quen tiêu dùng chuyển dịch rõ rệt: tỷ lệ người sử dụng Internet tham gia mua bán trực tuyến tăng từ 77% năm 2019 lên 88% năm 2020; trong đó 74% người mua sắm lựa chọn kênh website và sàn giao dịch thương mại điện tử, 33% giao dịch qua các diễn đàn và mạng xã hội. Trên bình diện quốc tế, theo thống kê năm 2020 của Eurostat, tỷ lệ người mua sắm trực tuyến (độ tuổi 16–74) tại Liên minh châu Âu đạt 65%, trong đó Đan Mạch đạt tỷ lệ cao nhất là 89%, và 73% người dùng Internet tại EU có phát sinh giao dịch đặt hàng trực tuyến.

Tại khu vực Tây Nguyên, tỉnh Đắk Lắk giữ vai trò là trung tâm kinh tế lớn nhất vùng. Cùng với xu thế chung của cả nước, các hoạt động thương mại điện tử tại Đắk Lắk phát triển nhanh chóng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý nhà nước thông qua công tác đăng ký kinh doanh nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống thất thu thuế và duy trì trật tự thị trường. Chuyên đề thực tập tốt nghiệp "Pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử tại Đăk Lăk" được tác giả Lê Thị Khánh Linh (sinh viên lớp K25 - LKT 2, Khoa Luật, Trường Đại học Duy Tân) thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Mai Thị Mai Hương, trong thời gian thực tập từ ngày 20/02/2023 đến ngày 17/03/2023 tại Văn phòng Luật sư Phúc An Phát (thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, các khái niệm, đặc điểm và quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về đăng ký kinh doanh ngành nghề có điều kiện trong lĩnh vực thương mại điện tử.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về điều kiện, hồ sơ, trình tự và thủ tục đăng ký kinh doanh thương mại điện tử trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
  3. Chỉ ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân trong quá trình áp dụng pháp luật tại địa phương và trên phạm vi cả nước.
  4. Đề xuất các kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đăng ký kinh doanh thương mại điện tử tại Đắk Lắk.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động đăng ký kinh doanh, thiết lập website TMĐT bán hàng và website cung cấp dịch vụ TMĐT; đối tượng nghiên cứu là các quan hệ pháp luật về đăng ký kinh doanh thương mại điện tử, thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở pháp lý và khung lý thuyết

Khóa luận vận dụng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam điều chỉnh quyền tự do kinh doanh và hoạt động thương mại điện tử, bao gồm:

  • Hiến pháp năm 2013: Điều 33 quy định quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.
  • Luật Doanh nghiệp năm 2020: Điều 7 quy định về quyền tự do kinh doanh và quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Luật Đầu tư năm 2020: Khoản 1 Điều 5 khẳng định quyền kinh doanh của nhà đầu tư, đồng thời xác lập danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện vì lý do an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức và sức khỏe cộng đồng.
  • Luật Giao dịch điện tử năm 2005: Điều 33 quy định về giá trị pháp lý và tính chất của hợp đồng điện tử được xác lập dưới dạng thông điệp dữ liệu.
  • Luật Quản lý thuế năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2016): Quy định về nghĩa vụ kê khai và nộp thuế phát sinh từ các hoạt động thương mại, không phân biệt phương thức truyền thống hay điện tử.
  • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Khoản 3 Điều 95 quy định việc công nhận thông điệp dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ hợp pháp.
  • Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 52/2013/NĐ-CP): Khung pháp lý nền tảng về phân loại chủ thể, điều kiện và thủ tục quản lý website TMĐT bán hàng và website cung cấp dịch vụ TMĐT.
  • Thông tư số 47/2014/TT-BCT và Thông tư số 21/2018/TT-BCT: Quy định chi tiết về quản lý website thương mại điện tử, quy chế, mẫu biểu và quy trình thẩm định hồ sơ đăng ký trực tuyến.

Về lý thuyết chủ thể, văn bản phân định chủ thể TMĐT thành hai nhóm:

  • Nhóm trực tiếp: Người bán (chủ sở hữu website TMĐT bán hàng hoặc người bán trên sàn TMĐT) và người mua.
  • Nhóm gián tiếp: Thương nhân/tổ chức cung cấp dịch vụ TMĐT và thương nhân/tổ chức cung cấp hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ logistics.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý và thống kê mô tả:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa lý thuyết: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 để phân tích các quy phạm pháp luật, làm rõ điều kiện, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi đăng ký kinh doanh TMĐT.
  • Phương pháp thu thập, xử lý và thống kê số liệu mô tả: Sử dụng tại Chương 2 để tổng hợp số liệu về tình hình doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2020–2021, phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật và các vướng mắc thực tiễn.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu văn bản pháp luật hiện hành; số liệu thống kê từ Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Tổng cục Thống kê, Eurostat; hồ sơ thực tế và dữ liệu tác nghiệp thu thập tại Văn phòng Luật sư Phúc An Phát (Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Luận và quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động thương mại điện tử và các quy định pháp luật thực định về điều kiện, hồ sơ, trình tự thủ tục đăng ký. Tác giả phân tích 4 đặc điểm cơ bản của TMĐT so với thương mại truyền thống: hình thức thực hiện không bắt buộc tiếp xúc trực tiếp; phạm vi hoạt động không bị giới hạn bởi biên giới địa lý; chủ thể tham gia mở rộng (bao gồm bên thứ ba cung cấp hạ tầng, chứng thực); và thời gian thực hiện giao dịch liên tục 24/7.

Về quy định đăng ký website thương mại điện tử, tác giả hệ thống hóa các tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Công Thương:

Loại hình website Điều kiện pháp lý cốt lõi Quy trình thực hiện
Website TMĐT bán hàng Thương nhân, tổ chức hoặc cá nhân có mã số thuế; tên miền hợp lệ; công bố đầy đủ thông tin: chủ sở hữu, đặc tính hàng hóa/dịch vụ, giá cả (bao gồm thuế/phí), điều kiện giao dịch chung (vận chuyển, thanh toán, đổi trả, bảo hành). Thực hiện thủ tục thông báo trực tuyến với Bộ Công Thương qua Cổng thông tin Quản lý hoạt động thương mại điện tử trước khi bán hàng.
Website cung cấp dịch vụ TMĐT (Sàn giao dịch TMĐT, khuyến mại trực tuyến, đấu giá trực tuyến) Là thương nhân/tổ chức có ngành nghề phù hợp; có tên miền hợp lệ; xây dựng đề án cung cấp dịch vụ (mô hình tổ chức, tính năng kỹ thuật, phân định trách nhiệm); xây dựng quy chế quản lý và cơ chế xử lý vi phạm. Thực hiện thủ tục đăng ký và được Bộ Công Thương xác nhận; nộp hồ sơ trực tuyến kết hợp hồ sơ bản giấy; nhận đoạn mã biểu tượng xác nhận để gắn lên website.

Quy trình đăng ký website cung cấp dịch vụ TMĐT được chi tiết hóa qua 5 bước xử lý:

  1. Bước 1: Đăng ký tài khoản trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT (cung cấp tên, số ĐKKD, trụ sở, thông tin liên hệ).
  2. Bước 2: Bộ Công Thương phản hồi về tính hợp lệ của tài khoản trong thời hạn 03 ngày làm việc.
  3. Bước 3: Đăng nhập, khai báo thông tin theo mẫu và đính kèm hồ sơ điện tử theo Điều 14 Thông tư 47/2014/TT-BCT.
  4. Bước 4: Bộ Công Thương xét duyệt hồ sơ điện tử trong thời hạn 07 ngày làm việc. Doanh nghiệp có 30 ngày để bổ sung hồ sơ nếu có yêu cầu (quá 30 ngày không phản hồi thì hồ sơ bị chấm dứt).
  5. Bước 5: Sau khi hồ sơ trực tuyến hợp lệ, doanh nghiệp gửi bộ hồ sơ bản giấy hoàn chỉnh về Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số. Bộ Công Thương ban hành xác nhận đăng ký trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ bản giấy.

Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử tại tỉnh Đăk Lăk

Chương 2 phân tích bối cảnh phát triển doanh nghiệp và hoạt động áp dụng pháp luật tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Theo số liệu phản ánh trong đề tài:

  • Năm 2020: Cả nước có 134.941 doanh nghiệp thành lập mới (giảm 2,3% so với năm 2019 do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19).
  • Bốn tháng đầu năm 2021: Số doanh nghiệp thành lập mới phục hồi với 44.166 doanh nghiệp và tổng số vốn đăng ký đạt 627,7 nghìn tỷ đồng (tăng 17,5% về số lượng doanh nghiệp và tăng 41% về số vốn so với cùng kỳ năm 2020).

Về thủ tục đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Đắk Lắk, quy trình thành lập doanh nghiệp thực hiện qua Phòng Đăng ký kinh doanh với thời hạn xử lý hồ sơ là 03 ngày làm việc và thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ.

Tác giả chỉ ra 6 nhóm bất cập, hạn chế lớn trong thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh thương mại điện tử:

  1. Khoảng trống pháp lý đối với kinh doanh trên mạng xã hội: Hoạt động bán hàng qua Facebook, Zalo phát triển mạnh nhưng cơ quan quản lý chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết; chưa ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình giao kết hợp đồng trực tuyến theo quy định tại Điều 23 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP.
  2. Bất cập trong cơ chế phản ánh website vi phạm: Cổng thông tin cho phép phản ánh dấu hiệu vi phạm nhưng không giới hạn số lượt và chưa có cơ chế xác minh danh tính người phản ánh, dẫn đến nguy cơ bị lợi dụng để cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp.
  3. Thất thu thuế và thiếu chế tài kiểm soát: Phần lớn cá nhân, hộ kinh doanh trực tuyến không thực hiện đăng ký với Cục Thương mại điện tử và không kê khai doanh thu. Hình thức thanh toán nhận hàng trả tiền mặt (COD) không có hóa đơn, chứng từ khiến cơ quan thuế khó xác định doanh thu. Pháp luật quy định nghĩa vụ đăng ký thuộc về thương nhân nhưng trách nhiệm thanh tra, giám sát tại Điều 37 Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Điều 32 Thông tư 47/2014/TT-BCT còn chung chung, thiếu phân cấp cụ thể.
  4. Khó khăn trong thu thập chứng cứ điện tử: Dù Khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 công nhận thông điệp dữ liệu là chứng cứ, nhưng các dữ liệu số dễ bị chỉnh sửa, xóa bỏ không dấu vết. Pháp luật hiện hành thiếu nghị định hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục thu thập và bảo quản chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp thương mại.
  5. Hiện tượng giả mạo tên miền và thương hiệu: Tình trạng lập website giả mạo bằng cách sử dụng tên miền gần giống (như trường hợp thêm ký tự vào tên miền ngân hàng hoặc tổ chức lớn) nhằm lừa đảo người tiêu dùng diễn biến phức tạp, trong khi khung pháp lý chưa có cơ chế bảo vệ tên miền tương tự một cách chặt chẽ.
  6. Thủ tục xin cấp phép sàn TMĐT rườm rà: Doanh nghiệp phải trải qua quy trình phức tạp gồm cả nộp hồ sơ trực tuyến lẫn nộp bản giấy; đề án cung cấp dịch vụ yêu cầu nhiều tài liệu kỹ thuật phức tạp nhưng chưa có mẫu chuẩn hóa, đòi hỏi người thực hiện phải có chuyên môn sâu về pháp lý và công nghệ.

Nguyên nhân của các bất cập trên được xác định do: các quy định pháp luật nằm phân tán, thiếu đồng bộ; Luật Giao dịch điện tử năm 2005 sau nhiều năm thi hành đã lạc hậu so với thực tiễn công nghệ mới; sự phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý thị trường, công thương, thuế và thông tin truyền thông còn lỏng lẻo; niềm tin của người tiêu dùng đối với TMĐT chưa cao.

Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử tại tỉnh Đăk Lăk

Trên cơ sở các tồn tại đã chỉ ra, tác giả đề xuất các định hướng hoàn thiện khung pháp lý và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:

  • Hoàn thiện thể chế và khung pháp lý: Khẩn trương rà soát, sửa đổi các quy định đã lạc hậu; đồng bộ hóa Luật Giao dịch điện tử với các bộ luật chuyên ngành; ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về quy trình giao kết hợp đồng trực tuyến và cơ chế kiểm soát kinh doanh trên nền tảng mạng xã hội.
  • Nâng cao hiệu lực kiểm tra, giám sát và quản lý thuế: Quy định rõ trách nhiệm kiểm tra, phân cấp thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan quản lý nhà nước; thiết lập cơ chế kiểm soát dòng tiền, dữ liệu giao dịch trực tuyến để chống thất thu thuế.
  • Phát triển hạ tầng kỹ thuật và thị trường tại Đắk Lắk: Nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ dịch vụ công trực tuyến; hoàn thiện hạ tầng logistics nhằm hỗ trợ chuỗi cung ứng hàng hóa; tăng cường các biện pháp xây dựng niềm tin thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trực tuyến.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý: Khóa luận đã phân định rõ ràng ranh giới pháp lý, điều kiện và hồ sơ áp dụng cho hai nhóm mô hình TMĐT cơ bản (website bán hàng và website cung cấp dịch vụ TMĐT), chỉ ra các mốc thời gian hành chính bắt buộc (03 ngày xử lý tài khoản, 07 ngày thẩm định hồ sơ online, 30 ngày hạn mức bổ sung, 05 ngày cấp xác nhận sau khi nhận hồ sơ giấy).
  • Nhận diện cụ thể 6 điểm nghẽn thực tiễn: Khóa luận đã phân tích các lỗ hổng cụ thể về pháp lý và quản lý, từ việc thiếu quy định quản lý bán hàng qua mạng xã hội, nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh qua cổng phản ánh vi phạm, việc thất thu thuế qua phương thức COD, đến các rào cản tố tụng đối với chứng cứ điện tử theo Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • Đóng góp về mặt địa phương: Gắn kết các quy định chung của Trung ương với điều kiện thực tế tại tỉnh Đắk Lắk – địa bàn trung tâm kinh tế Tây Nguyên đang trong quá trình chuyển đổi số, cung cấp góc nhìn thực tiễn từ hoạt động tư vấn của tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo tự nhận xét của tác giả trong lời cảm ơn và phần mở đầu, do thời gian thực tập có hạn (diễn ra trong vòng gần một tháng, từ 20/02/2023 đến 17/03/2023), chuyên đề chủ yếu tập trung vào phân tích quy phạm pháp luật thực định và các số liệu tổng quan, chưa thực hiện được các cuộc khảo sát định lượng sâu trên diện rộng đối với toàn bộ các doanh nghiệp TMĐT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng: Từ phạm vi nghiên cứu của đề tài, các nghiên cứu tiếp theo có thể đi sâu đánh giá tác động của các văn bản luật mới ban hành điều chỉnh giao dịch điện tử; xây dựng mô hình phối hợp liên ngành giữa cơ quan Thuế – Công an – Công Thương trong việc định danh người bán hàng trực tuyến; hoặc nghiên cứu các chế tài xử lý vi phạm thương quyền và tên miền tương tự trên môi trường mạng.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Luật và Luật Kinh tế: Tham khảo phương pháp tiếp cận đề tài nghiên cứu pháp luật thực định về thương mại điện tử, cấu trúc một báo cáo/chuyên đề thực tập tốt nghiệp ngành luật.
  • Doanh nghiệp, hộ kinh doanh và tổ chức hành nghề luật: Sử dụng hướng dẫn chi tiết tại Chương 1 làm tài liệu tra cứu các bước, thành phần hồ sơ và thời hạn khi tiến hành thủ tục thông báo website TMĐT bán hàng hoặc đăng ký website cung cấp dịch vụ TMĐT với Bộ Công Thương.
  • Cán bộ quản lý nhà nước tại địa phương: Tham khảo các phân tích về bất cập trong quản lý thuế, bán hàng qua mạng xã hội và tố tụng chứng cứ số để phục vụ công tác quản lý và xây dựng chính sách hỗ trợ TMĐT trên địa bàn Đắk Lắk.

Câu hỏi thường gặp

1. Thời hạn giải quyết thủ tục đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tại Bộ Công Thương được quy định như thế nào? Theo quy định tại Thông tư 47/2014/TT-BCT và Thông tư 21/2018/TT-BCT được trích dẫn trong đề tài:

  • Đăng ký mở tài khoản hệ thống: 03 ngày làm việc.
  • Thẩm định và phản hồi hồ sơ điện tử: 07 ngày làm việc.
  • Thời hạn bổ sung thông tin khi có yêu cầu: tối đa 30 ngày (quá thời hạn này hồ sơ bị chấm dứt).
  • Xác nhận đăng ký hoàn thành: 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ bản giấy đầy đủ, hợp lệ gửi trực tiếp hoặc qua bưu điện về Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số.

2. Thành phần hồ sơ đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử gồm những giấy tờ gì? Căn cứ Thông tư 47/2014/TT-BCT và Nghị định 85/2021/NĐ-CP, hồ sơ gồm:

  • Đơn đăng ký website cung cấp dịch vụ thương mại điện tử (theo mẫu tại Thông tư 47/2014/TT-BCT).
  • Bản sao chứng thực Quyết định thành lập (đối với tổ chức), Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư (đối với thương nhân).
  • Đề án cung cấp dịch vụ TMĐT (nêu rõ mô hình tổ chức, cấu trúc, tính năng kỹ thuật, phân định quyền và trách nhiệm).
  • Quy chế quản lý hoạt động của website cung cấp dịch vụ TMĐT.
  • Mẫu hợp đồng dịch vụ hoặc thỏa thuận hợp tác giữa đơn vị sở hữu website và bên tham gia bán hàng/dịch vụ.
  • Các điều kiện giao dịch chung áp dụng trên website (nếu có).

3. Tại sao hoạt động kinh doanh trực tuyến trên mạng xã hội hiện nay dễ dẫn đến nguy cơ thất thu thuế? Tác giả chỉ ra rằng phần lớn cá nhân, tổ chức bán hàng qua mạng xã hội (Facebook, Zalo) không thực hiện kê khai đăng ký kinh doanh với Cục Thương mại điện tử và không chủ động kê khai doanh thu. Các giao dịch chủ yếu sử dụng phương thức nhận hàng rồi trả tiền mặt (COD), không xuất hóa đơn, chứng từ hợp lệ. Đồng thời, pháp luật hiện hành chưa quy định cụ thể cơ chế thanh tra, giám sát liên ngành để truy vết doanh thu đối với loại hình này.

4. Khó khăn lớn nhất trong việc sử dụng dữ liệu điện tử làm chứng cứ giải quyết tranh chấp thương mại là gì? Theo Khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, thông điệp dữ liệu điện tử được thừa nhận là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, rào cản thực tiễn là dữ liệu điện tử dễ bị can thiệp, chỉnh sửa hoặc xóa bỏ mà không để lại dấu vết rõ ràng. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật vẫn thiếu nghị định hướng dẫn chi tiết về quy trình thu thập, giám định và xác thực tính nguyên vẹn của chứng cứ số khi xảy ra tranh chấp.

5. Đề tài được nghiên cứu thực tế tại cơ quan, đơn vị nào? Đề tài được thực hiện dựa trên quá trình thực tập thực tế tại Văn phòng Luật sư Phúc An Phát (Công ty Luật TNHH Phúc An Phát), địa chỉ tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, trong giai đoạn từ ngày 20/02/2023 đến ngày 17/03/2023.

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của sinh viên Lê Thị Khánh Linh đã hệ thống hóa các quy định pháp luật Việt Nam về đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thương mại điện tử, đồng thời phân tích thực trạng áp dụng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Nghiên cứu đã làm rõ các thủ tục hành chính đối với website TMĐT bán hàng và website cung cấp dịch vụ TMĐT, nhận diện 6 bất cập thực tiễn về quản lý mạng xã hội, kiểm soát thuế, chứng cứ số và thủ tục hành chính. Các kiến nghị và giải pháp được đề xuất hướng tới việc hoàn thiện thể chế kinh tế số, nâng cao năng lực quản lý nhà nước và hỗ trợ doanh nghiệp địa phương phát triển kinh tế thương mại điện tử minh bạch, bền vững.