Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn từ ngày 01/12/2019 đến ngày 31/10/2020, theo thông báo rút kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên hủy và sửa 245 vụ án hình sự với 420 bị cáo, chiếm tới 81,9% tổng số bản án có sai sót phải xử lý lại. Thực trạng này phản ánh tính chất phức tạp và sự thiếu thống nhất khi áp dụng quy định hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài tập trung giải quyết những vướng mắc pháp lý nảy sinh từ 02 căn cứ quy định tại điểm b và điểm đ khoản 2 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và trường hợp có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật nhưng không thuộc diện sửa bản án. Mục tiêu cụ thể của luận văn là làm sáng tỏ nội hàm lý luận, phân tích thực trạng xét xử trên phạm vi cả nước trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022, từ đó xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học giúp giảm thiểu khoảng 20% các quyết định hủy án thiếu căn cứ, rút ngắn từ 3 đến 6 tháng thời gian giải quyết các vụ án bị kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Đồng thời, nghiên cứu củng cố niềm tin tư pháp của người dân đối với tính nghiêm minh của hệ thống Tòa án nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 03 lý thuyết pháp lý trụ cột: Lý thuyết bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, Học thuyết pháp chế xã hội chủ nghĩa và Lý thuyết về nguyên tắc hai cấp xét xử theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Các học thuyết này khẳng định phán quyết tư pháp phải cân bằng giữa việc đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của công dân.

Khung phân tích của đề tài vận hành dựa trên 04 khái niệm pháp lý then chốt được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Hành vi không thực hiện, thực hiện sai hoặc không đầy đủ trình tự luật định, dẫn đến "xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án" bị sai lệch theo điểm o khoản 1 Điều 4.
  • Giai đoạn xét xử sơ thẩm: Khoảng thời gian tố tụng từ thời điểm Tòa án thụ lý hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng cho đến khi Hội đồng xét xử ban hành bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
  • Sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật: Việc lựa chọn không chính xác hoặc áp dụng sai quy phạm pháp luật nội dung dẫn đến phán quyết thiếu căn cứ, ảnh hưởng đến tính công bằng.
  • Thẩm quyền xét xử phúc thẩm: Giới hạn và quyền hạn xử lý bản án của cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 345, Điều 357 và Điều 358.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp gồm hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật cùng 50 bản án hình sự phúc thẩm được ban hành từ năm 2018 đến năm 2022 tại các Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cả nước. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 50 hồ sơ vụ án điển hình được thu thập theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các vụ án có quyết định hủy theo điểm b và điểm đ khoản 2 Điều 358.

Phương pháp phân tích chuẩn tắc kết hợp phương pháp tổng hợp, so sánh luật học và nghiên cứu tình huống điển hình (case study) được lựa chọn xuyên suốt. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân tại các địa phương như Kon Tum, Bạc Liêu, Phú Yên và Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó chỉ rõ những khoảng trống pháp lý cần khắc phục.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại sự thiếu thống nhất trong việc định lượng mức độ nghiêm trọng của vi phạm thủ tục. Điển hình tại Bản án số 287/HS-PT ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, cấp phúc thẩm đã hủy bản án phạt 16 năm tù chỉ vì một Hội thẩm nhân dân tham gia 02 phiên tòa cùng thời điểm vi phạm nguyên tắc xét xử liên tục tại khoản 2 Điều 250, mà không đánh giá liệu sai sót này có làm thay đổi bản chất vụ án hay không.

Thứ hai, việc bỏ sót tư cách người tham gia tố tụng bị xử lý không đồng nhất giữa các Tòa án. Trong khi Bản án số 462/2018/HS-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ bản án do bỏ sót hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 651 Bộ luật Dân sự, thì tại một số vụ án khác, Tòa án lại chọn phương án tách phần trách nhiệm dân sự để giải quyết riêng.

Thứ ba, áp dụng tùy nghi thẩm quyền hủy án đối với các bị cáo không kháng cáo. Tại Bản án số 05/2020/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên liên quan vụ án đánh bạc thu giữ hơn 11.000.000 đồng, dù chỉ có 02 bị cáo kháng cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã hủy toàn bộ bản án đối với cả 11 bị cáo còn lại để xử phạt nghiêm khắc hơn, làm phát sinh tranh cãi về giới hạn xét xử phúc thẩm theo Điều 345.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên bắt nguồn từ việc Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP đã hết hiệu lực thi hành, tạo ra khoảng trống hướng dẫn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 suốt hơn 04 năm qua. Trong khi Thông tư liên tịch số 02/2017 chỉ điều chỉnh giai đoạn điều tra và truy tố, cấp xét xử sơ thẩm hoàn toàn thiếu cẩm nang định lượng vi phạm.

Dữ liệu thực tiễn có thể được trực quan hóa qua bảng so sánh 02 nhóm nguyên nhân hủy án: nhóm vi phạm thủ tục tố tụng chiếm khoảng 58% (chủ yếu là bỏ sót người tham gia tố tụng và vi phạm nguyên tắc xét xử) và nhóm sai lầm áp dụng pháp luật chiếm khoảng 42% (chủ yếu là cho hưởng án treo sai quy định và phân hóa hình phạt chưa đúng). Đồng thời, biểu đồ phân bố cho thấy việc lạm dụng quyền hủy án toàn bộ đối với các bị cáo không kháng cáo chiếm tới 35% các trường hợp bị kiến nghị giám đốc thẩm, gây lãng phí lớn nguồn lực tố tụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm tính thống nhất trong xét xử, tác giả đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần khẩn trương ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 trong thời hạn 12 tháng tới. Văn bản cần liệt kê cụ thể 05 nhóm vi phạm thủ tục nghiêm trọng gồm: vi phạm thẩm quyền xét xử, bỏ sót người tham gia tố tụng, vi phạm quyền bào chữa, vi phạm nguyên tắc xét xử liên tục và sai lệch biên bản nghị án.

Thứ hai, bổ sung điều khoản loại trừ minh bạch vào quy chế xét xử phúc thẩm trước quý IV/2023. Quy định rõ: Tòa án cấp phúc thẩm không được hủy bản án nếu sai sót thủ tục không làm thay đổi bản chất vụ án, không xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc việc xét xử lại không thể khắc phục được vi phạm. Mục tiêu là giảm 25% tỷ lệ hủy án hình thức.

Thứ ba, Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và Tòa án nhân dân Tối cao phối hợp xây dựng Thông tư liên tịch quy định cụ thể tiêu chí đánh giá sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, siết chặt điều kiện hủy án đối với các bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng nghị.

Thứ tư, các Tòa án nhân dân cấp cao tổ chức định kỳ 02 đợt tập huấn chuyên đề mỗi năm cho Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân. Đồng thời thiết lập cơ chế đối thoại nghiệp vụ 06 tháng một lần giữa cấp sơ thẩm và phúc thẩm để rút kinh nghiệm kịp thời.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, mang lại giá trị ứng dụng cao cho 04 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tại 02 cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm: Nắm vững các tiêu chí định lượng vi phạm tố tụng để hạn chế tối đa nguy cơ bản án bị tuyên hủy hoặc hủy án tùy tiện, nâng cao tỷ lệ giải quyết án đúng hạn trên 95%.
  • Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Sử dụng luận cứ trong đề tài để kiểm sát chặt chẽ hoạt động xét xử tại phiên tòa, đưa ra các kháng nghị phúc thẩm chính xác và bảo vệ phán quyết đúng pháp luật.
  • Luật sư và người bào chữa: Khai thác các phân tích về quyền tham gia tố tụng của người đại diện và bị hại để xây dựng chiến lược bào chữa, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ.
  • Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự: Dùng làm tài liệu tham khảo giảng dạy và nghiên cứu mở rộng trong chương trình đào tạo sau đại học tại các cơ sở đào tạo luật uy tín.

Câu hỏi thường gặp

Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử nặng hơn nếu bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ không? Hội đồng xét xử phúc thẩm hoàn toàn có quyền căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 358 để hủy bản án sơ thẩm nếu phát hiện sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật làm mức hình phạt quá nhẹ, nhằm bảo đảm nguyên tắc công minh tư pháp dù không thể trực tiếp sửa án tăng nặng.

Vi phạm nguyên tắc xét xử liên tục có bắt buộc phải hủy bản án sơ thẩm không? Theo tinh thần điểm o khoản 1 Điều 4, vi phạm nguyên tắc xét xử liên tục theo Điều 250 chỉ dẫn đến hủy án khi hành vi vi phạm đó xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của đương sự hoặc làm sai lệch kết quả vụ án; nếu không gây hậu quả thì chỉ cần rút kinh nghiệm.

Tòa án cấp phúc thẩm có được hủy phần bản án của bị cáo không kháng cáo không? Căn cứ Điều 345, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xem xét phần bản án không bị kháng cáo khi cần thiết, nhưng chỉ nên hủy để xét xử lại theo hướng bất lợi khi có căn cứ rõ ràng về việc bỏ lọt hành vi hoặc áp dụng sai khung hình phạt.

Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP còn hiệu lực áp dụng trong xét xử phúc thẩm hiện nay không? Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP đã chính thức hết hiệu lực cùng với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, tuy nhiên các cơ quan tố tụng vẫn có thể vận dụng tinh thần hợp lý trong khi chờ văn bản hướng dẫn mới thay thế.

Sự khác nhau cơ bản giữa hủy án để điều tra lại và hủy án để xét xử lại là gì? Hủy bản án để điều tra lại áp dụng cho vi phạm tại giai đoạn điều tra, truy tố hoặc bỏ lọt tội phạm theo khoản 1 Điều 358, trong khi hủy án để xét xử lại áp dụng cho vi phạm phát sinh trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo khoản 2 Điều 358.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 05 kết luận then chốt:

  • Làm rõ cơ sở lý luận về chế định hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Nhận diện 03 dạng vi phạm thủ tục tố tụng phổ biến dẫn đến hủy án trong thực tiễn xét xử sơ thẩm.
  • Phân tích sâu sắc bất cập khi áp dụng căn cứ sai lầm trong áp dụng pháp luật đối với bị cáo không kháng cáo.
  • Xác định nguyên nhân trọng yếu xuất phát từ sự thiếu vắng văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 358.
  • Đề xuất hệ thống 04 giải pháp lập pháp và tổ chức thực thi có tính khả thi cao.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là xây dựng dự thảo các điều khoản hướng dẫn cụ thể cùng cơ chế loại trừ vi phạm không nghiêm trọng. Kế hoạch triển khai tiếp theo cần tập trung hoàn thiện dự thảo Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán trong lộ trình 2023-2024. Độc giả quan tâm và các cơ quan chuyên môn hãy nghiên cứu toàn văn công trình để cùng thảo luận, góp phần hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự Việt Nam.