Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo đảm quyền con người từ năm 1986 đến năm 2010" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Hiện thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62.01), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Phan Xuân Sơn và TS Đặng Dũng Chí, bảo vệ năm 2013.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của các dân tộc và là khát vọng chung của nhân loại. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vấn đề quyền con người ngày càng nhận được sự quan tâm lớn, đồng thời mang tính chất phức tạp và nhạy cảm khi bị một số thế lực chính trị sử dụng như công cụ can thiệp vào chủ quyền quốc gia và công việc nội bộ của các nước. Tại Việt Nam, Chỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã xác định yêu cầu nghiên cứu khoa học về quyền con người nhằm xây dựng hệ thống quan điểm của Đảng, phục vụ công tác tư tưởng, hoàn thiện chính sách, pháp luật và tạo thế chủ động chính trị trong quan hệ quốc tế.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về quyền con người dưới các góc độ luật học, triết học, xã hội học và quan hệ quốc tế, nhưng dưới giác độ chuyên ngành Lịch sử Đảng, quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo đảm quyền con người trong thời kỳ Đổi mới vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và đồng bộ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ quá trình lãnh đạo bảo đảm quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2010, từ đó rút ra các kinh nghiệm lịch sử có giá trị tham khảo.
Để thực hiện mục đích này, luận án giải quyết ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khái quát quá trình bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1986.
- Làm rõ chủ trương và các biện pháp, giải pháp cơ bản của Đảng trong việc tổ chức thực hiện bảo đảm quyền con người (bao gồm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa) từ năm 1986 đến năm 2010, phục dựng bức tranh lịch sử về sự lãnh đạo của Đảng.
- Đánh giá thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và đúc rút những kinh nghiệm lịch sử chủ yếu về hoạch định đường lối và chỉ đạo thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo đảm quyền con người; hoạt động của toàn Đảng, các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng trong bảo đảm quyền con người từ năm 1986 đến năm 2010.
- Phạm vi nội dung: Chủ trương, biện pháp, giải pháp cơ bản của Đảng về bảo đảm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội; các sự kiện lịch sử phản ánh sự lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực này.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 (thời điểm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI đề xướng đường lối Đổi mới toàn diện) đến năm 2010 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X).
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu quyền con người với tư cách giá trị phổ quát toàn cầu được áp dụng trong mọi mặt đời sống xã hội tại Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tiến hành hệ thống hóa các tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo các nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu quốc tế
Các tài liệu quốc tế cung cấp cơ sở lý luận, luật pháp quốc tế và các cơ chế giám sát nhân quyền toàn cầu:
- Janusz Simonides (1998), Quyền con người - những hướng đi và thách thức mới (Nxb UNESCO, Ashgate), phân tích mối tương quan giữa quyền con người với hòa bình, dân chủ, phát triển và việc bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương.
- Alison Brysk (2002), Toàn cầu hóa và quyền con người (Nxb Đại học California), đánh giá tác động của thị trường quốc tế, công nghệ thông tin tới quyền con người.
- Janusz Symonides (2003), Quyền con người: bảo vệ, giám sát thực thi trên toàn thế giới (Nxb UNESCO), giới thiệu hệ thống thủ tục pháp lý bảo vệ nhân quyền của Liên hợp quốc và các khu vực.
- Ingrit Nifosi (2005), Các thủ tục đặc biệt của Liên hợp quốc trong lĩnh vực quyền con người (Nxb Intersentia, Antwerp), nghiên cứu hoạt động của Ủy ban Quyền con người thuộc Liên hợp quốc.
- Michael K. (2006), Luật quốc tế về quyền con người (Nxb Ashgate Publishing Ltd), trình bày các nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế.
- Amqvist.J (2005), Human right culture and the rule of law (Nxb Oxford and Portland), phân tích mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa và sự tôn trọng quyền con người.
- Báo cáo khoa học Antecedents of the idea of human rights (2000) tại Hội thảo phát triển con người, phân tích nguồn gốc và sự phát triển của khái niệm nhân quyền hiện đại gắn với chính sách xóa đói giảm nghèo.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Giai đoạn khởi đầu Đổi mới: Cuốn sách Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền (1987, Nxb Sự Thật); Hội thảo khoa học ngày 31/12/1990 với chủ đề Chủ nghĩa xã hội và nhân quyền; Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước KX 07 (1991–1995) với đề tài nhánh KX 07-16 do GS.TS Hoàng Văn Hảo làm chủ nhiệm về Các điều kiện bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước; chuyên khảo của Trung tâm Nghiên cứu quyền con người thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1993); tác phẩm của TS Chu Hồng Thanh (1996) về các thế hệ quyền con người.
- Nghiên cứu lý luận, triết học và chính trị: Sách của GS.TS Trần Văn Bính chủ biên (1999) xuất phát từ hội thảo UNRID–LHQ (1997); Quan điểm của Mác - Lênin về quyền con người, quyền công dân (1998); Nguyễn Văn Vĩnh (2005), Triết học chính trị về quyền con người; Phạm Ngọc Anh chủ biên (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người; Trần Ngọc Đường (2004), Bàn về quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Sơn về quyền phát triển và của Phạm Văn Khánh về tính phổ biến và đặc thù của quyền con người.
- Nghiên cứu dưới góc độ pháp lý: Đinh Văn Mậu (2003), PGS.TS Nguyễn Văn Động (2005), luận án phó tiến sĩ luật học của Nguyễn Văn Mạnh (1995), luận án tiến sĩ luật học của Tường Duy Kiên (2004), cùng các bài viết của Lê Minh Thông (2000), Đào Văn Anh (2008).
- Các bài viết về quan điểm của Đảng và thành tựu chuyên ngành: Bài viết của Hoàng Chí Bảo (1989), Phạm Ngọc Quang (1989, 1990), Đỗ Nguyên Phương (1993), Nghiêm Đình Vỳ - Lê Kim Hải (1993), Trần Duy Hưng (1996), Lê Khả Phiêu (2000), Cao Đức Thái (2001, 2003), Hoàng Văn Nghĩa (2002), Nguyễn Viết Thông (2004), Trần Minh Tơn (2007), Vũ Thị Minh Chi (2009), Đặng Dũng Chí (2010), Phạm Bình Minh (2009), Nguyễn Thị Báo (2003, 2007), Thành Nam (2002), Trần Thị Hòe (2004).
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào khía cạnh pháp lý, triết học, xã hội học hoặc từng lĩnh vực chính sách riêng lẻ. Luận án của Đỗ Thị Hiện xác định vị trí tiếp cận dưới góc độ Lịch sử Đảng, tập trung làm rõ hệ thống quan điểm, sự chuyển biến tư duy, quá trình chỉ đạo thực tiễn và tổng kết các kinh nghiệm lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bảo đảm quyền con người giai đoạn 1986–2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người; hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; các văn kiện chuẩn mực quốc tế như Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966), Tuyên bố Viên và Chương trình hành động (1993).
- Định nghĩa quyền con người: Quyền con người được tác giả xác định là những đặc quyền tự nhiên vốn có như nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích, năng lực của mỗi cá nhân con người được thừa nhận và bảo hộ bằng pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế.
- Hệ thống 5 quan điểm cốt lõi của Đảng về quyền con người (theo Chỉ thị 12/CT-TW năm 1992):
- Quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức.
- Quyền con người là sản phẩm của sự kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù (lịch sử, văn hóa, chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế).
- Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc.
- Quyền con người gắn liền với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia (không chấp nhận luận điểm "nhân quyền cao hơn chủ quyền").
- Quyền tự do, dân chủ của cá nhân không tách rời nghĩa vụ, trách nhiệm công dân và phải được thể chế hóa bằng pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, lịch sử và phân tích chính sách:
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện tiến trình hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện theo trục thời gian.
- Phương pháp phân tích văn bản, tổng hợp, thống kê mô tả và so sánh lịch sử.
- Phương pháp tiếp cận quyền (chuyên ngành nhân quyền) kết hợp với các phương pháp liên ngành của khoa học chính trị, pháp lý học và xã hội học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (Văn kiện các Đại hội VI, VII, VIII, IX, X; các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư).
- Văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam (các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và các bộ luật, luật chuyên ngành).
- Điều ước, công ước quốc tế và tài liệu của Liên hợp quốc về quyền con người.
- Chuyên khảo, công trình nghiên cứu khoa học, bài báo tạp chí chuyên ngành và báo cáo tổng kết thực tiễn của các cơ quan nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
| Cấu trúc chương |
Tên chương trong văn bản |
Nội dung trọng tâm |
| Chương 1 |
Chủ trương và chỉ đạo bảo đảm quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996 |
Khái niệm quyền con người; thực tiễn trước 1986; nhu cầu Đổi mới; Chỉ thị 12/CT-TW; Hiến pháp 1992; chỉ đạo thực hiện quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa (1986–1996). |
| Chương 2 |
Sự lãnh đạo bảo đảm quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010 |
Yêu cầu mới từ CNH-HĐH và hội nhập; chủ trương qua các Đại hội VIII, IX, X; chỉ đạo bảo đảm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa (1996–2010). |
| Chương 3 |
Nhận xét và kinh nghiệm |
Đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; đúc rút 2 nhóm bài học kinh nghiệm về hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực hiện. |
Chương 1. Chủ trương và chỉ đạo bảo đảm quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến năm 1996
Chương 1 tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử, nhu cầu chuyển đổi nhận thức và các quyết sách ban đầu của Đảng về quyền con người trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới:
-
Bảo đảm quyền con người ở Việt Nam thời kỳ trước năm 1986:
- Giai đoạn 1945–1975: Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 khẳng định quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc gắn liền với độc lập dân tộc. Hiến pháp năm 1946 (bản Hiến pháp đầu tiên) gồm 70 điều thì có tới 18 điều tại Chương II quy định về nghĩa vụ và quyền lợi công dân (bình đẳng trước pháp luật, quyền bầu cử, ứng cử, tự do ngôn luận, tín ngưỡng, cư trú, tư hữu tài sản). Năm 1957, Việt Nam tham gia bốn Công ước Giơ-ne-vơ năm 1949 về bảo vệ dân thường và tù binh chiến tranh. Hiến pháp năm 1959 kế thừa và bổ sung 11 quyền mới, đồng thời có 9 điều quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền công dân.
- Giai đoạn 1975–1986: Sau khi gia nhập Liên hợp quốc (20/9/1977), Việt Nam tham gia 2 công ước cơ bản về nhân quyền là ICCPR và ICESCR vào năm 1982. Hiến pháp năm 1980 tiếp tục quy định các quyền công dân. Tuy nhiên, do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, quyền sở hữu tư nhân bị hạn chế, quyền tự do kinh doanh chưa được thừa nhận; các quyền dân sự, chính trị phần nào bị lu mờ trước mục tiêu tập thể. Khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối những năm 1970 đầu 1980 làm thu nhập quốc dân tăng thấp (giai đoạn 1976–1980 chỉ tăng bình quân 0,4%/năm; năm 1979 giảm 1,8%, năm 1980 giảm 3,65%), lạm phát phi mã, sản lượng nông nghiệp 1976–1985 chỉ tăng 3,8%, lương thực năm 1985 đạt 15,9 triệu tấn.
- Bước chuyển cục bộ: Từ Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV, 8/1979) và chính sách khoán sản phẩm trong nông nghiệp, thu nhập quốc dân giai đoạn 1981–1985 đã tăng bình quân 6,4%/năm, tạo tiền đề thực tiễn cho Đổi mới toàn diện.
-
Nhu cầu cấp thiết đổi mới và chủ trương của Đảng:
- Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) khởi xướng đường lối Đổi mới, chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều thành phần, dân chủ hóa đời sống xã hội, đặt con người vào vị trí trung tâm.
- Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 12/CT-TW, định hình hệ thống 5 quan điểm nền tảng của Đảng về quyền con người.
- Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên hiến định thuật ngữ "quyền con người" tại Điều 50: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật".
-
Chỉ đạo thực hiện từ năm 1986 đến năm 1996:
- Quyền dân sự, chính trị: Từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp, bảo đảm quyền tự quyết dân tộc, quyền tham gia quản lý nhà nước, mở rộng dân chủ và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do báo chí, xuất bản.
- Quyền kinh tế, văn hóa - xã hội: Thừa nhận kinh tế nhiều thành phần, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản; giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Chương 2. Sự lãnh đạo bảo đảm quyền con người của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2010
Chương 2 phân tích sự phát triển trong đường lối lãnh đạo và kết quả triển khai bảo đảm quyền con người trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế:
-
Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng:
- Bối cảnh đất nước cơ bản thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ CNH-HĐH; hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực thể chế và giải quyết các vấn đề xã hội phức tạp.
- Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục phát triển lý luận: đưa vấn đề quyền con người vào văn kiện chính thức của Đại hội; khẳng định mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xác định con người là trung tâm của chiến lược phát triển.
-
Chỉ đạo bảo đảm quyền dân sự, chính trị (1996–2010):
- Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhằm phòng chống tham nhũng, lãng phí và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, dân sự.
- Ban hành và chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
- Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân thông qua việc ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004) và các chỉ thị liên quan; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo khuôn khổ pháp luật.
- Phát triển hệ thống thông tin, báo chí, bảo đảm quyền được thông tin, tự do ngôn luận của công dân.
-
Chỉ đạo bảo đảm quyền kinh tế, văn hóa - xã hội (1996–2010):
- Ban hành các chính sách quốc gia về việc làm, xóa đói giảm nghèo (các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình 135).
- Cải cách hệ thống an sinh xã hội, mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; đầu tư nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu.
- Thực hiện các chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Thúc đẩy bình đẳng giới, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các nhóm yếu thế trong xã hội.
Chương 3. Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 3 tổng kết các đánh giá khoa học và đúc rút bài học lịch sử từ quá trình lãnh đạo của Đảng:
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:
- Về mặt khoa học: Luận án góp phần giải quyết vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của một đảng cầm quyền đối với việc bảo đảm quyền con người; hệ thống hóa quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền con người từ năm 1986 đến năm 2010.
- Về mặt lịch sử và thực tiễn: Tái hiện bức tranh lịch sử chân thực, khách quan và toàn diện về chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng trong việc bảo đảm các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trong suốt 25 năm Đổi mới.
- Về tổng kết kinh nghiệm: Đúc rút hệ thống bài học kinh nghiệm lịch sử có cơ sở khoa học về cả phương diện hoạch định đường lối và tổ chức chỉ đạo thực tiễn, phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng hiện nay.
- Cung cấp luận cứ đấu tranh tư tưởng: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và lập luận khoa học phục vụ công tác thông tin đối ngoại, đối thoại quốc tế và phản bác các luận điệu lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá Nhà nước Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu đến năm 2010 (kết thúc nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng), do đó chưa phản ánh những bước phát triển lý luận và lập hiến mới trong Hiến pháp năm 2013 (với Chương II riêng biệt về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân) cũng như các chủ trương tại các kỳ Đại hội XI, XII sau này.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình Đảng lãnh đạo bảo đảm quyền con người trong giai đoạn từ sau năm 2010 đến nay; đi sâu phân tích cơ chế bảo đảm quyền con người trong điều kiện hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế toàn diện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Phục vụ công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy các môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Lý luận chính trị, Luật học (chuyên ngành Luật Nhân quyền) và Khoa học Xã hội và Nhân văn.
- Cán bộ tham mưu, hoạch định chính sách: Cung cấp tư liệu lịch sử và kinh nghiệm thực tiễn cho cán bộ thuộc các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng chính sách kinh tế - xã hội, văn hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
- Cán bộ làm công tác đối ngoại và tư tưởng: Hỗ trợ luận cứ khoa học cho công tác tuyên truyền đối ngoại, đối thoại nhân quyền và đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ thị nào của Đảng lần đầu tiên đưa ra hệ thống quan điểm toàn diện về quyền con người trong thời kỳ Đổi mới?
Chỉ thị số 12/CT-TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa VII) về "Vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta". Chỉ thị này đã xác lập 5 quan điểm nền tảng, định hướng cho công tác nghiên cứu, xây dựng pháp luật và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về quyền con người.
2. Thuật ngữ "quyền con người" được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong bản Hiến pháp nào của Việt Nam?
Thuật ngữ "quyền con người" được chính thức hiến định lần đầu tiên tại Điều 50 của Hiến pháp năm 1992: "Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật". Trước đó, các Hiến pháp 1946, 1959 và 1980 thể hiện nội hàm này thông qua chế định "quyền và nghĩa vụ của công dân".
3. Tình hình tăng trưởng thu nhập quốc dân của Việt Nam trước Đổi mới (1976–1985) được luận án nêu như thế nào?
Theo số liệu trong luận án, giai đoạn 1976–1980 thu nhập quốc dân tăng rất thấp, bình quân chỉ 0,4%/năm (năm 1977 tăng 5,3%, năm 1978 tăng 1,1%, năm 1979 giảm 1,8%, năm 1980 giảm 3,65%). Sau khi có các điều chỉnh kinh tế cục bộ từ Hội nghị Trung ương 6 (8/1979) và khoán sản phẩm trong nông nghiệp, thu nhập quốc dân giai đoạn 1981–1985 đã tăng bình quân 6,4%/năm.
4. Việt Nam gia nhập hai Công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người (ICCPR và ICESCR) vào năm nào?
Sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc vào ngày 20/9/1977, Việt Nam đã tự nguyện tham gia Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) vào năm 1982 (cùng các công ước chuyên biệt khác trong các năm 1981, 1982).
5. Quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa "nhân quyền" và "chủ quyền quốc gia" được xác định như thế nào?
Đảng khẳng định quyền con người gắn liền với quyền dân tộc cơ bản và thuộc phạm vi chủ quyền quốc gia; sự nghiệp giải phóng con người gắn với giải phóng dân tộc. Luận án nhấn mạnh quan điểm không có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", mà chỉ có sự thống nhất biện chứng giữa bảo đảm quyền con người và giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Đỗ Thị Hiện là công trình khoa học chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nghiên cứu có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng đối với việc bảo đảm quyền con người trong giai đoạn 1986–2010. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử và logic kết hợp tiếp cận chuyên ngành quyền con người, tác giả đã tái hiện quá trình chuyển biến tư duy lý luận, hoàn thiện thể chế và chỉ đạo thực tiễn trên các nhóm quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Công trình đã đánh giá khách quan các thành tựu, hạn chế, đồng thời đúc rút những kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn cho công tác lãnh đạo, quản lý xã hội và nghiên cứu học thuật.