Luận văn: Đảng bộ xã Tân Lập, Bắc Sơn, Lạng Sơn lãnh đạo phát triển KT-XH 2000 - 2020

Nghiên cứu quá trình Đảng bộ xã Tân Lập, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2000 - 2020 cùng các kết quả nổi bật đạt

Tác giả

Dương Thị Hồng Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2023

99
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Đảng bộ xã Tân Lập lãnh đạo phát triển KT XH

Giai đoạn 2000-2020 ghi nhận dấu ấn nổi bật của Đảng bộ xã Tân Lập trong công tác lãnh đạo. Tân Lập là xã miền núi, vùng cao thuộc huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Địa bàn có địa hình hiểm trở, giao thông đi lại cách trở. Xuất phát điểm kinh tế của xã rất thấp. Nền sản xuất nông nghiệp trước năm 2000 phần lớn tự cấp tự túc. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm mức cao, đời sống văn hóa còn nhiều hạn chế. Trước tình hình đó, Đảng bộ xã xác định phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Cấp ủy đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Huyện ủy Bắc Sơn. Từ đó, địa phương xây dựng các chương trình hành động sát hợp với thực tế. Mục tiêu cốt lõi là phát huy tiềm năng đất đai, đồi rừng và nguồn lao động. Đảng bộ tập trung chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa. Sự lãnh đạo đúng đắn đã tạo động lực cho nhân dân tin tưởng, vươn lên thoát nghèo. Sau hai thập kỷ, diện mạo nông thôn Tân Lập có nhiều thay đổi rõ nét. Đời sống vật chất của cư dân được cải thiện đáng kể. Hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh.

1.1. Bối cảnh lịch sử và điều kiện tự nhiên của xã Tân Lập

Tân Lập là một xã vùng cao thuộc huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Địa hình của xã chủ yếu là núi cao và thung lũng đá vôi. Đất canh tác nông nghiệp có diện tích hạn chế, phân tán. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, thường xuyên chịu rét đậm và khô hạn kéo dài. Trước năm 2000, giao thông nội xã gặp vô vàn trở ngại, giao thương gần như khép kín. Người dân chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao. Trình độ dân trí chưa đồng đều, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Kinh tế gia đình phụ thuộc vào trồng ngô, lúa nương với năng suất bấp bênh. Những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đặt ra thách thức nặng nề cho Đảng bộ xã trong việc tìm kiếm hướng đi phát triển bền vững.

1.2. Chủ trương chỉ đạo xuyên suốt của Đảng bộ xã qua các thời kỳ

Bước vào giai đoạn 2000-2010, Đảng bộ xã Tân Lập xác định đổi mới tư duy kinh tế là mấu chốt. Đảng ủy ban hành các nghị quyết chuyên đề về khai hoang và thâm canh cây màu. Chính quyền vận động người dân áp dụng giống lúa thuần, giống ngô lai mới. Bước sang giai đoạn 2010-2020, Đảng bộ chuyển trọng tâm sang xây dựng nông thôn mới và cơ cấu lại cây trồng. Trọng tâm lãnh đạo là kết hợp hài hòa phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội. Các chương trình giảm nghèo nhanh được triển khai đồng bộ đến từng xóm bản. Công tác giáo dục tư tưởng giúp quần chúng xóa bỏ tâm lý trông chờ vào hỗ trợ Nhà nước. Nhờ đó, ý chí tự lực vươn lên của người dân được khơi dậy mạnh mẽ.

II. Thực trạng kinh tế xã hội xã Tân Lập dưới sự lãnh đạo của Đảng

Quá trình triển khai nghị quyết tại xã Tân Lập tạo nên nhiều chuyển biến rõ rệt. Tuy nhiên thực tiễn cũng bộc lộ không ít khó khăn. Về mặt tích cực, kinh tế nông nghiệp đạt mức tăng trưởng ấn tượng. Cây thuốc lá nhanh chóng trở thành cây trồng mũi nhọn đem lại giá trị thương mại lớn. Tổng sản lượng thuốc lá tăng liên tục qua từng năm. Ngành chăn nuôi lợn và gia cầm quy mô trang trại mở rộng nhanh chóng. Đời sống vật chất của các hộ dân ngày một sung túc hơn. Dù vậy, địa phương vẫn đối mặt với những rào cản mang tính cố hữu. Địa hình đồi núi dốc khiến đất chăn thả gia súc lớn bị thu hẹp đáng kể. Số lượng đàn trâu bò sụt giảm do thiếu đồng cỏ và tác động của cơ giới hóa. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng nông thôn chưa bắt kịp tốc độ tăng trưởng. Các tuyến đường liên thôn thường xuyên bị chia cắt vào mùa mưa bão. Tình trạng thiếu nguồn vốn đầu tư dài hạn cản trở nhiều hộ gia đình mở rộng kinh doanh. Năng lực tiếp thu kỹ thuật của một bộ phận người dân còn hạn chế. Những bất cập này đòi hỏi cấp ủy phải liên tục điều chỉnh chính sách chỉ đạo.

2.1. Thành tựu nổi bật trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp

Thành tựu kinh tế tiêu biểu nhất của xã là chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Cây thuốc lá được mở rộng quy mô diện tích rất nhanh. Năm 2005, sản lượng thuốc lá đạt 265 tấn. Đến năm 2009, con số này tăng lên 364 tấn. Doanh thu từ thuốc lá mang lại nguồn tiền mặt trực tiếp cho bà con. Cùng với đó, ngành chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng vượt bậc. Đàn lợn năm 2005 chỉ có 3.290 con, đến năm 2009 đã vượt mốc 12.500 con, tăng gấp gần bốn lần. Đàn gia cầm cũng phát triển mạnh mẽ. Trong lâm nghiệp, công tác giao đất giao rừng cho hộ gia đình được hoàn thành tại 10 trên 12 thôn. Người dân chủ động trồng rừng sản xuất, phủ xanh đất trống đồi trọc.

2.2. Những hạn chế và thách thức nội tại trong phát triển xã hội

Bên cạnh các thành tựu, Tân Lập còn đối diện với nhiều rào cản xã hội. Tỷ lệ hộ cận nghèo vẫn tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo cao khi gặp thiên tai. Đời sống văn hóa tại một số thôn vùng sâu tiến bộ chậm chạp. Các thiết chế thể thao và nhà văn hóa thôn chưa được xây dựng kiên cố. Đội ngũ cán bộ cơ sở có lúc thiếu tính chủ động trong công tác tham mưu. Tình trạng thiếu việc làm sau mùa vụ khiến lao động trẻ phải rời quê đi làm ăn xa. Hiện tượng này ảnh hưởng đến việc củng cố nhân lực sản xuất tại chỗ. Ngoài ra, việc giảm đàn gia súc lớn trâu bò do mất bãi chăn thả chưa có giải pháp thay thế triệt để. Những vấn đề trên đòi hỏi phương thức chỉ đạo toàn diện hơn.

III. Giải pháp của Đảng bộ xã Tân Lập nhằm phát triển toàn diện KT XH

Để khắc phục khó khăn, Đảng bộ xã Tân Lập triển khai nhiều nhóm giải pháp căn cơ. Điểm đột phá là đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho nông dân. Đảng ủy chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp huyện mở lớp đào tạo nghề. Người dân được hướng dẫn thâm canh ngô lúa, lai tạo giống gia súc và cải tiến lò sấy thuốc lá. Giải pháp tiếp theo là hỗ trợ vốn vay ưu đãi qua các tổ chức đoàn thể. Hội Nông dân và Hội Phụ nữ đứng ra tín chấp với ngân hàng chính sách. Các hộ nghèo nhờ đó có nguồn vốn kịp thời để đầu tư chuồng trại và cây giống. Song song với đó, Đảng bộ đặc biệt coi trọng đầu tư hạ tầng nông nghiệp. Hệ thống kênh mương thủy lợi được ưu tiên kiên cố hóa nhằm ứng phó biến đổi khí hậu. Công trình mương Phai Hua hoàn thành vào năm 2012 là minh chứng rõ nét. Nguồn nước tưới ổn định giúp mở rộng diện tích gieo trồng hai vụ lúa. Công tác quy hoạch đất lâm nghiệp được thực hiện dứt điểm, tạo hành lang pháp lý cho kinh tế rừng.

3.1. Chuyển giao khoa học kỹ thuật và hỗ trợ vốn vay sản xuất

Đảng bộ xã chủ trương đưa tiến bộ kỹ thuật thành đòn bẩy sản xuất. Xã phối hợp chặt chẽ với Trung tâm dạy nghề và Trạm Khuyến nông huyện Bắc Sơn. Nhiều lớp tập huấn chuyên sâu được tổ chức ngay tại thôn bản. Riêng năm 2015, xã mở 5 lớp cho gần 400 lượt nông dân theo học. Nội dung bài giảng hướng dẫn kỹ thuật sấy than thay cho sấy củi thuốc lá. Kỹ thuật nuôi bò thương phẩm và phòng trừ dịch hại cũng được phổ biến rộng rãi. Đi đôi với kỹ thuật, nguồn vốn tín chấp giúp bà con có nguồn lực mua phân bón, cây con giống. Nhờ vậy, năng suất cây trồng nâng cao rõ rệt, rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi giảm mạnh.

3.2. Cải tạo thủy lợi và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu

Xây dựng hạ tầng cơ sở được xác định là khâu then chốt thúc đẩy kinh tế. Đảng bộ Tân Lập chỉ đạo tập trung nguồn vốn làm mới và tu bổ kênh mương phai. Nhân dân các thôn bản đóng góp hàng nghìn ngày công lao động nạo vét dòng chảy. Công trình mương Phai Hua khánh thành năm 2012 giải quyết triệt để nạn hạn hán cho các cánh đồng trũng. Bên cạnh thủy lợi, mạng lưới đường liên thôn được cứng hóa từng bước bằng bê tông xi măng. Việc vận chuyển nông sản hàng hóa thuốc lá và ngô sang các xã lân cận trở nên thông suốt. Hạ tầng bưu điện và trạm y tế được sửa sang khang trang, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh của cư dân.

IV. Bài học kinh nghiệm và ý nghĩa thực tiễn từ Đảng bộ xã Tân Lập

Chặng đường hai mươi năm lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng bộ xã Tân Lập để lại nhiều bài học quý báu. Trước hết là bài học bám sát thực tiễn địa phương để đề ra chủ trương sát đúng. Cấp ủy luôn coi trọng phát huy dân chủ cơ sở và khơi dậy nội lực nhân dân. Phương châm 'dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra' được vận dụng sáng tạo. Mọi chủ trương chuyển dịch cây trồng đều xuất phát từ lợi ích thiết thực của người dân bản địa. Bài học thứ hai là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các chi hội đóng vai trò cầu nối chuyển tải chủ trương vào đời sống. Giá trị thực tiễn từ mô hình Tân Lập khẳng định vai trò hạt nhân chính trị của tổ chức Đảng cơ sở. Kinh nghiệm này có thể nhân rộng cho nhiều xã miền núi có xuất phát điểm tương đồng. Việc lựa chọn sản phẩm nông nghiệp chủ lực gắn với đầu ra ổn định là hướng đi bền vững. Đổi mới phương thức chỉ đạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là chìa khóa bảo đảm mọi thành công.

4.1. Bài học về sự đồng thuận của nhân dân và vai trò cấp ủy

Thành công trong chuyển dịch kinh tế ở Tân Lập bắt nguồn từ sự đồng lòng của nhân dân. Cấp ủy cơ sở đã phát huy tính tiên phong, gương mẫu của từng đảng viên. Đảng viên luôn đi đầu trong việc thử nghiệm giống ngô lai và cây thuốc lá mới. Khi thấy hiệu quả thực tế, nhân dân tự giác làm theo mà không cần áp đặt. Sự công khai, minh bạch các khoản vốn hỗ trợ củng cố niềm tin tuyệt đối của quần chúng vào Đảng. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân tạo sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn. Nhờ đó, các phong trào thi đua sản xuất lan tỏa rộng khắp địa bàn toàn xã.

4.2. Khả năng ứng dụng mô hình cho các xã miền núi lân cận

Mô hình lãnh đạo của Tân Lập cung cấp nhiều giá trị tham khảo cho các địa phương vùng cao. Việc gắn kết chặt chẽ giữa chính sách kinh tế và chuyển giao kỹ thuật tạo ra đột phá bền vững. Các địa phương vùng núi cần chủ động quy hoạch cây trồng chủ lực dựa trên lợi thế thổ nhưỡng riêng biệt. Bên cạnh đó, bài toán tín dụng chính sách thông qua tổ chức đoàn thể cần được tiếp tục nhân rộng. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền, ngân hàng và nông dân giúp giải quyết tận gốc cơn khát vốn. Cuối cùng, việc đầu tư hạ tầng giao thông và thủy lợi phải đi trước một bước nhằm mở đường giao thương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

11/10/2026
Đảng bộ xã tân lập huyện bắc sơn tỉnh lạng sơn lãnh đạo phát triển kinh tế xã hội từ năm 2000 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đảng bộ xã Tân Lập lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2000 - 2010 Chương 2: Đảng bộ xã Tân Lập lãnh đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2010 - 2020 Chương 3: Nhận xét và kinh nghiệm. 11 Chƣơng 1 ĐẢNG BỘ XÃ TÂN LẬP LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2000 – 2010 1. Những yếu tố tác động đến phát triển kinh tế, xã hội và chủ trƣơng của Đảng bộ xã Tân Lập 1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân cư của xã Tân Lập Tân Lập ngày nay là một trong 19 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn của huyện Bắc Sơn, trải qua các thời kì lịch sử, quá trình hình thành và phát triển địa danh và địa giới của xã Tân Lập cũng có sự biến đổi.

Theo cuốn “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” cho biết: Địa danh hành chính Bắc Sơn ra đời tương đối muộn, đến năm 1894, chính quyền thực dân Pháp tách 5 tổng thuộc châu Vạn Nhai (Võ Nhai), Thái Nguyên là: Tổng Quỳnh Sơn, Tổng Bắc Sơn, Tổng Nhất Thể, Tổng Tân Lưu và Tổng Vĩnh Yên thành lập Châu Bắc Sơn sáp nhập vào tỉnh Lạng Sơn [3]. Vùng đất Tân Lập ngày nay dưới thời Pháp chưa trở thành đơn vị hành chính cấp xã mang danh xưng Tân Lập mà phần đất của Tân Lập ngày nay thuộc địa bàn ba xã: Hữu Vĩnh, Vũ Lăng, Ngư Viễn thuộc tổng Quỳnh Sơn, châu Bắc Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương của Chính phủ bỏ đơn vị hành chính cấp tổng, theo đó đơn vị dưới huyện (châu) là xã, dưới xã là thôn. Thực hiện chủ trương của Chính phủ, năm 1947 trên cơ sở cắt một phần đất của ba xã Hữu Vĩnh, Vũ Lăng, Ngư Viễn để thành lập xã Tân Quang.

Năm 1954, xã Tân Quang được chia tách thành hai xã là Tân Lập và Tân Hương ngày nay. Như vậy, từ năm 1954 Tân Lập trở thành một đơn vị cấp xã thuộc huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Danh xưng Tân Lập cũng được hình thành từ đó. Trải qua các giai đoạn lịch sử, với sự chia tách, sáp nhập địa phận các thôn gắn liền với tên gọi khác nhau, đến nay xã Tân Lập gồm có 12 thôn là: Lân Pán, Mỏ Nọi, Thâm Cái, Pác Giáo, Thắm Luông, Mỏ Pia, Xa Đán, Nà Luông, Mỏ Đẩu, Lân Riều, Mỏ Khuyn và Nà Riến.

12 Tân Lập là xã vùng cao của huyện Bắc Sơn, cách trung tâm huyện 8km về phía Tây Nam. Phía Đông giáp xã Hữu Vĩnh và xã Chiêu Vũ; phía Tây giáp xã Vũ Sơn; phía Nam giáp xã Tân Hương và xã Vũ Lăng; phía Bắc giáp xã Đồng Ý. Đặc điểm địa hình nổi bật của Tân Lập là xen kẽ giữa đồi núi đá vôi hiểm trở là các thung lũng tương đối bằng phẳng, tạo điều kiện để nhân dân khai pá thành đồng ruộng để sản xuất. Khí hậu Tân Lập mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh và khô, mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều.

Nhiệt độ trung bình là 20°C. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 hằng năm, nhiệt độ cao nhất tới 39oC; mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, vào mùa lạnh thường xuất hiện hiện tượng sương muối. Do chịu ảnh hưởng của vùng núi Bắc Bộ, lượng mưa trung bình của Tân Lập là 1500- 1600mm/năm và phân bố không đồng đều, chủ yếu tập trung vào mùa mưa. Lượng mưa phân bố không đều giữa các mùa, gây khó khăn trong sản xuất nông nghiệp và hoạt động giao thông.

Xã Tân Lập nằm trong vòng cung núi đá vôi Bắc Sơn nên ít chịu ảnh hưởng của gió bão, sương muối, đặc điểm này góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông – lâm nghiệp. Xã Tân Lập có tổng diện tích tự nhiên là 2.358,64 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 549,06 ha; đất lâm nghiệp 549,51 ha. Trong các dạng chất đất ở Bắc Sơn như đất đỏ vàng trên đất sét, đất đỏ vàng trên đá magma axit, đất vàng trên đá cát, đất phù sa và các loại đất tụ dốc, đất nâu đỏ trên đá vôi. xã Tân Lập tập trung chủ yếu đất Feralit phong hóa từ đá vôi.

Bên cạnh đó còn có loại đất phù sa dọc các thung lũng. Đặc điểm chất đất của Tân Lập thích hợp trồng các loại cây như: quýt, lê, ngô, khoai, sắn, hồi, thuốc lá, lúa, ngô, trồng cỏ phát triển chăn nuôi. Tuy nhiên, đất canh tác có độ dốc tương đối lớn nên thường gây xói mòn vào mùa mưa lũ, từ đó tạo ra khó khăn cho việc cải tạo chất đất để phát triển sản xuất. Xã Tân Lập không có hệ thống suối chảy qua, nên việc cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất vô cùng khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào thiên 13 nhiên.

Trước đây, rừng ở Tân Lập có nhiều loại gỗ quý như nghiến, đinh, lý, lát hoa, sến, táu, de, kháo thơm, dẻ. Các loại cây dược liệu quý làm thuốc chữa bệnh, gồm rễ gió, cây tầm gửi nghiến, gừng núi được người dân sử dụng như những bài thuốc quý trong chăm sóc và chữa bệnh thông thường. Nhiều loại rau rừng như rau ngót rừng, bồ khai, măng rừng,. Ngày nay do tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, một số loài động vật, thực vật quý đã không còn tồn tại, diện tích rừng có chiều hướng giảm.

Thực hiện chương trình phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, được sự quan tâm Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, xã Tân Lập đã triển khai giao đất, giao rừng cho các hộ nông dân, thực hiện các dự án trồng rừng, khoanh nuôi, tu bổ, bảo vệ trồng mới rừng được đẩy mạnh, môi trường sinh thái không ngừng được cải thiện. Dân số xã Tân Lập là địa bàn cư trú chủ yếu của ba dân tộc: Tày, Nùng, Kinh. Trong đó, người Tày chiếm số đông. Trước cách mạng tháng Tám (năm 1945), nhân dân đã khai canh lập nghiệp, tạo dựng làng bản, hình thành các tập quán trong canh tác lúa nước, trồng hoa màu, trồng bông dệt vải, trồng dâu nuôi tằm, đan lát, sản xuất công cụ phục vụ sản xuất, làm nón lá, chăn nuôi gia súc, gia cầm và khai thác lâm thổ sản, vật liệu để dựng nhà sàn, ổn định cuộc sống,.

Đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc Tày, Nùng ở địa phương khá phong phú, bao gồm: phong tục tập quán, lễ hội, văn nghệ dân gian,… Đặc biệt, cộng đồng các dân tộc ở địa phương luôn có sự gắn kết chặt chẽ, tương trợ lẫn nhau trong cuộc sống, từ đó hình thành nên các tập tục tốt đẹp như đổi công trong sản xuất, phe trong hiếu, hỉ. Hình thức đổi công tồn tại khá phổ biến trong nông nghiệp, nhằm hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình lao động sản xuất. Bên cạnh đó, để giúp đỡ nhau trong tang ma, cưới xin, người dân nơi đây lập ra các phe. Thông thường, trong mỗi thôn hoặc 2 - 3 thôn nhỏ đều có hàng phe của thôn.

Mỗi hộ gia đình cử một thành viên tham gia hàng 14 phe. hi gia đình trong thôn, bản có đám hiếu, người dân đến thăm viếng, giúp đỡ có thể là 5 - 10 bơ gạo, bó củi. Trong đám cưới hay vào nhà mới, người dân Tân Lập có tục lệ “gạo rượu”. Tục lệ này được hình thành nhằm giúp đỡ nhau về rượu, gạo trong tổ chức công việc đại sự như cưới xin, tang ma.

Chẳng hạn, đối với đám cưới, các gia đình trong thôn, trong các dòng họ sẽ giúp gia chủ 5 đến 10 lít rượu và 10 đến 15 kg gạo (gạo nếp hay gạo tẻ) hoặc cho vay mượn lợn để thực hiện nghi lễ [3]. Truyền thống tốt đẹp đó là một trong những giá trị quý báu để Đảng bộ, chính quyền xã phát huy trong công tác lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, dân cư ở địa phương, có những thuận lợi và khó khăn nhất định, tác động nhất định đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội của Đảng bộ xã và tình hình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Tình hình kinh tế - xã hội xã Tân Lập trước năm 2000 Đại hội Đại biểu Đảng bộ xã Tân lập lần thứ XII, nhiệm kì 1996 - 2000 đã đề ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ trong nhiệm kì mới là: Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhất là cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa; tiến hành thâm canh tăng vụ, áp dụng các biện pháp khoa học kĩ thuật vào sản xuất.

Đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình; làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân. Tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn đảng, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, phát huy năng lực của chính quyền và các tổ chức đoàn thể [3]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, điều hành của chính quyền, sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể và sự nỗ lực của nhân dân trên địa bàn xã, Tân Lập đã đạt được một số kết quả trên lĩnh vực kinh tế, xã hội.

15 (1) Về kinh tế Đối với sản xuất nông - lâm nghiệp, Đảng bộ xã tập trung chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, mở rộng diện tích thâm canh, tuyên truyền vận động nhân dân đưa giống lúa mới có năng xuất cao vào sản xuất như hang Dân 18, Ải 32, Ải Mai Hương và các giống ngô 9681, 9670, 888. Công tác cung ứng vật tư nông nghiệp được chú trọng và cơ bản đáp ứng được hoạt động sản xuất. Do năng suất và sản lượng lương thực tăng nên bình quân lương thực của xã tăng từ 356 kg (năm 1996) lên 400kg (năm 2000). Đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện.

Công tác thu ngân sách của xã hằng năm đều đạt theo chỉ tiêu huyện giao, chi ngân sách đảm bảo đúng quy định, hợp lý. Thuốc lá là cây trồng được cấp ủy xã Tân Lập chú trọng chỉ đạo sản xuất, từng bước khẳng định tính hiệu quả và phù hợp với điều kiện khí hậu, đất đai cũng như tập quán sản xuất, khả năng canh tác của nhân dân. Hiệu quả của việc trồng cây thuốc lá đã góp phần tăng thu nhập và giúp các hộ gia đình xoá đói giảm nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Dương Thị Hồng Linh (2023), Đảng bộ xã Tân Lập (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2000 đến năm 2020, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.
APA 7
Dương, T. H. L. (2023). Đảng bộ xã Tân Lập (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2000 đến năm 2020 [Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/dang-bo-xa-tan-lap-huyen-bac-son-tinh-lang-son-lanh-dao-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-tu-nam-2000-den-nam-2020/9535433853
IEEE
T. H. L. Dương, "Đảng bộ xã Tân Lập (huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn) lãnh đạo phát triển kinh tế, xã hội từ năm 2000 đến năm 2020," Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên, 2023. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/dang-bo-xa-tan-lap-huyen-bac-son-tinh-lang-son-lanh-dao-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-tu-nam-2000-den-nam-2020/9535433853

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác