Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TRỰC TIẾP ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, Quốc hội là đối tượng được rất nhiều công trình nghiên cứu về chính trị, pháp lý ở nước ta đề cập đến. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, với định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta, nhiều công trình nghiên cứu đã tập trung làm rõ vị trí, vai trò của Quốc hội trong mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, phù hợp với khuôn khổ phạm vi của Luận án này, việc khảo sát các công trình nghiên cứu về Quốc hội sẽ được tập trung vào các nội dung sau đây: Thứ nhất, về khái niệm tính đại diện và các yếu tố bảo đảm tính đại diện của Quốc hội; Thứ hai, việc bảo đảm tính đại diện của Quốc hội trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Thứ ba, thực trạng việc bảo đảm tính đại diện của Quốc hội; Thứ tư, các giải pháp, kiến nghị tăng cường việc bảo đảm tính đại diện của Quốc hội.
Luận văn, luận án, đề tài khoa học Trong những năm vừa qua, có khá nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ luật học và đề tài khoa học nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Tuy nhiên, như một nhà nghiên cứu đã nhận xét, các công trình nghiên cứu về Quốc hội thường ít quan tâm đến tính đại diện nhân dân của Quốc hội mà chú ý nhiều hơn đến các chức năng, nhiệm vụ Hiến định của Quốc hội như lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước [64]. Vì vậy, chỉ một số luận văn, luận án, đề tài có nội dung liên quan trực tiếp đến các vấn đề thuộc nội dung của đề tài luận án. Có thể kể đến gồm: Thứ nhất, Luận án tiến sỹ của Chu Văn Thành: Đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan đại diện ở nước ta hiện nay, bảo vệ vào năm 1992 (105 trang) [7].
8 Luận án này nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quá trình đổi mới các cơ quan đại diện ở nước ta trong giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1992. Trong Luận án, khái niệm dân chủ đại diện cũng đã được tác giả tập trung phân tích, qua đó khẳng định dân chủ đại diện là phương thức chủ yếu để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, Luận án này được thực hiện trước khi công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thực hiện ở nước ta. Thứ hai, Luận án tiến sỹ của Trương Thị Hồng Hà: Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ vào năm 2007 (197 trang) [112].
Luận án đưa ra nhiều vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động của Quốc hội và quyền giám sát tối cao của Quốc hội; nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của bộ máy giám sát của Nghị viện nước ngoài; đánh giá thực trạng của cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội; tìm ra nguyên nhân yếu kém của cơ chế pháp lý, đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội. Mặc dù không nghiên cứu trực tiếp về tính đại diện của Quốc hội nhưng trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã dành một dung lượng khá lớn để phân tích về tính đại diện và các biểu hiện của tính đại diện của Quốc hội. Nhưng các phân tích này chủ yếu đề cập đến tính đại diện của Quốc hội theo quan niệm truyền thống trong mô hình nhà nước Xô-Viết. Thứ ba, Luận án tiến sỹ của Vũ Văn Nhiêm: Chế độ bầu cử ở nước ta: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, bảo vệ vào năm 2009 (221 trang) [128].
Luận án làm rõ cơ sở lý luận về chế độ bầu cử trong xã hội dân chủ nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Thực tiễn tổ chức thực hiện chế độ bầu cử ở Việt Nam; đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới chế độ bầu cử để phát huy dân chủ. Luận án cũng dành một dung lượng khá lớn để phân tích về việc bảo đảm tính đại diện của Quốc hội thông qua cơ chế bầu cử. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ đề cập đến chế độ bầu cử nên tính đại diện của Quốc hội trong luận án chưa được đề cập ở góc độ tổng thể.
Thứ tư, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quang Hương: Nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay, bảo vệ năm 2006 (119 trang) [63]. Luận văn nghiên cứu về cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của việc nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội. Đồng thời, Luận văn cũng 9 tập trung đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội ở nước ta hiện nay (chủ yếu là hoạt động của đại biểu Quốc hội khóa X và khóa XI). Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội.
Ở mức độ một luận văn thạc sĩ luật học, các vấn đề lý luận về tính đại diện của Quốc hội mới dừng lại ở mức độ chung, chưa đi sâu phân tích các lý luận nền tảng tạo nên tính đại diện của Quốc hội. Thứ năm, Đề tài cấp nhà nước: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta” (năm 2004), do GS.TS Trần Ngọc Đường làm Chủ nhiệm đề tài [98]; Công trình này làm rõ cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đề tài đã phần nào đề cập đến cơ sở lí luận về tính đại diện của Quốc hội nói chung và ở nước ta nói riêng. Tuy nhiên, nội dung về tính đại diện của Quốc hội không phải là trọng tâm của nghiên cứu này nên tính đại diện của Quốc hội chưa được tập trung phân tích, làm rõ.
Thứ sáu, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị Việt Nam (qua 4 bản Hiến pháp), (năm 2002) do TS. Ngô Đức Mạnh làm Chủ nhiệm [51]. Đề tài đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội qua bốn bản Hiến pháp. Trong phần cơ sở lý luận, đề tài đã có những phân tích sơ bộ về những biểu hiện của tính đại diện của Quốc hội.
Về cơ sở thực tiễn, đề tài đã có sự khảo sát đầy đủ và khoa học về quá trình hình thành và phát triển của Quốc hội theo các giai đoạn gắn với sự phát triển của Hiến pháp ở nước ta. Tuy nhiên, cũng như nhiều công trình nghiên cứu khác, đề tài này tập trung nhiều vào các nội dung liên quan đến các chức năng Hiến định của Quốc hội mà chưa tập trung phân tích sâu về tính đại diện của Quốc hội. Sách chuyên khảo Tổ chức và hoạt động của Quốc hội là một trong những chủ đề được rất nhiều sách tham khảo trong và ngoài nước đề cập đến. Ở trong nước, chủ đề về tính đại diện của Quốc hội chưa được nhiều nhà nghiên cứu chú trọng.
Trong khi đó, ở nước ngoài, 10 việc nghiên cứu về tính đại diện của Quốc hội là khá phong phú, đa dạng. Ngoài các tác phẩm kinh điển của Jean Jacques Rousseau, A.Madison, John Stuart Mill… về dân chủ đại diện, trong thời gian gần đây đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu về tính đại diện của Quốc hội. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở nước ngoài cũng có nhận xét tương tự rằng “đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghị viện tập trung vào thiết chế nghị viện và mối quan hệ của nó với hành pháp nhưng có ít nghiên cứu tập trung vào mỗi quan hệ giữa nghị sĩ với các công dân” [157]. Trực tiếp liên quan đến đề tài của luận án này có một số công trình nổi bật sau: Thứ nhất, cuốn: “Chức năng đại diện của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền” (2007) do Văn phòng Quốc hội xuất bản [120].
Cuốn sách là tập hợp các bài viết tại Hội thảo cùng tên được thực hiện vào năm 2007 với sự tham gia của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Các bài nghiên cứu trong Hội thảo này tập trung làm rõ khái niệm chức năng đại diện và thực tiễn bảo đảm tính đại diện ở Quốc hội một số nước và Việt Nam. Đây là tập hợp các bài nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau nên chưa hình thành nên tính hệ thống các quan điểm về tính đại diện của Quốc hội. Thứ hai, cuốn: “Mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2007) do GS.TSKH Đào Trí Úc làm chủ biên [13].
Các tác giả của cuốn sách đã phân tích, làm rõ mô hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Quốc hội đóng một vai trò quan trọng. Mặc dù không đi sâu phân tích về cơ sở lý luận của tính đại diện nhưng các nhà nghiên cứu đã cho rằng để Quốc hội hoạt động hiệu quả trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì việc bảo đảm tính đại diện của Quốc hội là rất quan trọng, là điều kiện nhằm bảo đảm chủ quyền thuộc về nhân dân. Thứ ba, cuốn: “Quốc hội Việt Nam trong Nhà nước pháp quyền” (2007) do GS.TS Nguyễn Đăng Dung làm chủ biên [56].
Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích những yêu cầu chung đối với Quốc hội theo những tiêu chí của Nhà nước pháp quyền, chỉ ra những đòi hỏi của Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Cuốn sách cũng đề xuất, làm rõ những cách thức làm cho Quốc hội thực hiện tốt sự uỷ thác của nhân dân trong điều kiện của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. 11 Thứ tư, cuốn: The Concept of Representation, của Hana Pitkin xuất bản năm 1967 [143].