mở đầu cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam với sự chuyển đổi cơ chế quản lý đất nước từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước. Đường lối đổi mới mà trước hết là đổi mới về tư duy kinh tế của đại hội VI đã mang đến cho cách mạng nước ta nguồn sức mạnh mới để tiến lên theo định hướng XHCN. Giáo dục cũng phải chuyển từ phục vụ nền kinh tế hóa tập trung sang nền giáo dục vận hành trong cơ chế thị trường. Từ đó, vấn đề thực hiện quyền học tập của công dân cũng có những thay đổi nhất định với những yêu cầu sau: Thứ nhất, về cơ sở vật chất kĩ thuật, đội ngũ giáo viên.
Quyền học tập của công dân muốn được thực hiện trên thực tế thì yêu cầu quan trọng nhất, không thể thiếu là cần có đủ hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật với mạng lưới trường lớp rộng khắp các tỉnh thành; trang thiết bị cần thiết phục vụ cho nhu cầu học tập thường xuyên của công dân như: thư viện, sách vở, thiết bị giảng dạy, phòng thí nghiệm, thực hành… Cần có đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao. Đây là yếu tố góp phần quan trọng đối với thành công của sự nghiệp giáo dục. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là trung tâm của hệ thống giáo dục. Vì thế, quyền học tập của công dân được thực hiện hay không và thực hiện ở mức độ nào cũng phụ thuộc một phần rất lớn vào số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên.
Thứ hai, về công bằng xã hội trong giáo dục. Đảm bảo công bằng trong giáo dục là việc Nhà nước phải đảm bảo cơ hội tiếp cận với nền giáo dục có chất lượng như nhau cho mọi người trong xã hội, được đối xử bình SVTH: Nguyễn Thị Hòa Trang 8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Thị Bích Hường đẳng về cơ hội học tập, bất kể nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, giới tính, thành phần tôn giáo, sắc tộc, mức sống của gia đình người học, vùng núi hay miền xuôi. Tất cả đều được đối xử như nhau khi tham gia vào quá trình học tập hay học tại các cơ sở đào tạo khác nhau, tạo điều kiện cho nhân dân lao động nhất là con em các gia đình nghèo và diện chính sách được học hành. Để đảm bảo một nền giáo dục thực sự của dân, do dân, vì dân thì công dân phải được hưởng một nền giáo dục công bằng, bình đẳng.
Hiện nay, bên cạnh sự phân hóa giàu nghèo, còn có sự chênh lệch về phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng miền thì Đảng và Nhà nước ta phải thực hiện công bằng về cơ hội được học tập, đảm bảo quyền được học của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân lao động, nhất là con em các gia đình nghèo và chính sách được đến trường và ít nhất là đạt trình độ giáo dục phổ cập. Chỉ khi có công bằng trong giáo dục, chỉ khi mọi người dù giàu nghèo, sang hèn, dù lành lặn hay tàn tật, dù nam hay nữ, già hay trẻ đều có cơ hội học tập và thành đạt ngang nhau thì tiềm năng trí tuệ của xã hội mới được khai thác hết. Hiện nay ở nước ta con em các tỉnh miền núi, các vùng nông thôn nghèo, trẻ em lang thang, cơ nhỡ, trẻ sống trong các gia đình dân chài, trẻ em HIV/AIDS hay con em nghèo ở thành thị đi học đã khó, học lên càng khó hơn. Với chế độ học tập buộc phải học thêm ngoài giờ rất nhiều, phải đóng góp vô vàn các khoản tốn kém ngoài học phí, hàng năm phải mua sắm sách giáo khoa mới…Nhà nước đã vô tình gạt ra ngoài cả một lớp trẻ thiếu may mắn vì đã sinh ra trong những gia đình nghèo.
Vì thế, Nhà nước phải thực hiện công bằng trong giáo dục để đảm bảo cho tất cả mọi công dân đều được đến trường. Thực hiện công bằng trong giáo dục là sự đối xử bình đẳng giữa các bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, không có sự phân biệt đối xử trong môi trường học tập cũng như các cơ hội học tập và làm việc sau khi ra trường. Họ được học tập trong môi trường dân chủ, bình đẳng, hội nhập, không có sự kì thị, đối xử, được tự do bày tỏ quan điểm, ý chí, sự sáng tạo của mình trong học tập. Đảng và Nhà nước phải thực hiện SVTH: Nguyễn Thị Hòa Trang 9 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Thị Bích Hường công bằng trong giáo dục – đó là yêu cầu không thể thiếu để công dân thực hiện quyền học tập của mình.
Thứ ba, về học tập suốt đời (HTSĐ). HTSĐ là sự thể hiện rõ nét nhất quyền học tập của công dân, là việc học không giới hạn về thời gian và độ tuổi. HTSĐ là hoạt động học tập được tiến hành trong cả cuộc đời nhằm nâng cao kiến thức, năng lực để hoàn thiện nhân cách, bổn phận công dân, trách nhiệm xã hội hoặc yêu cầu công việc4. Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống HTSĐ bao gồm 4 giai đoạn: giáo dục mầm non, giáo dục phổ cập, giáo dục và đào tạo sau phổ cập, đào tạo tiếp tục sau khi rời ghế nhà trường (trong hệ thống HTSĐ phổ biến hiện nay trên thế giới, còn có giai đoạn thứ 5 là học tập sau khi nghỉ hưu).
Công dân được quyền học tập không hạn chế, được tham gia tất cả các bậc học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân. HTSĐ là hướng tới một xã hội học tập mà ở đó những con người ham học hỏi, thích khám phá, tìm tòi, sáng tạo có thể tự mình vươn tới cái đích của tri thức nhân loại mà không bị ràng buộc, cản trở bởi những yếu tố khách quan. Ở đó Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện cho cá nhân có cơ hội học tập, cơ hội được đào tạo lại, mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, học mọi lúc, mọi nơi, mọi cấp bậc, học bất cứ khi nào, bất cứ ngành nghề nào mà xã hội không cấm (được quyền lựa chọn những ngành nghề phù hợp với năng lực của bản thân, các ngành thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, nhân văn, kĩ thuật…). Công dân được quyền tham gia nhiều hình thức đào tạo khác nhau: Học chính quy hoặc không chính quy; Học trường công lập, dân lập hoặc tư thục; Học tập trung hoặc vừa học vừa làm; Học ban ngày hoặc buổi tối; Học trực tiếp hoặc gián tiếp; Người già, người trẻ đều có quyền đi học.
Chỉ khi công dân được tự do học tập thì khi đó quyền học tập của công dân mới được thực hiện đầy đủ nhất. Vì vậy, Nhà nước phải đảm bảo cho công dân HTSĐ. 4 Tạp chí khoa học giáo dục số 53, tháng 2 năm 2010, Trang 8. SVTH: Nguyễn Thị Hòa Trang 10 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Thị Bích Hường 1.2 Cơ sở pháp lý về quyền học tập của công dân.1 Quyền học tập của công dân đƣợc ghi nhận trong văn bản pháp luật quốc tế: Tuyên ngôn của toàn thế giới về nhân quyển năm 1948.
Quyền được học tập của công dân là một trong những quyền thể hiện của quyền con người. Quyền con người, quyền công dân không chỉ là những ghi nhận ở cấp quốc gia, không chỉ nằm ở chủ trương chung của Đảng và Nhà nước mà đó còn là những tuyên bố ở cấp quốc tế, là những cam kết của các nước trên thế giới. Vì thế, khi nói đến quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền học tập không thể không nhắc tới UDHR. UDHR được Đại hội Liên hợp quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217A(III) ngày 10/12/1948.
Đây là văn kiện chính trị quan trọng mang tính chất cương lĩnh và là thành quả vĩ đại trong lịch sử đấu tranh của nhân loại vì nhân quyền. Tại điều 26 UDHR quy định: “Mọi người đều có quyền được học tập, giáo dục phải miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và trung học cơ sở. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kĩ thuật và dạy nghề phải mang tính phổ thông, và giáo dục đại học hay cao hơn phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có khả năng”.
Quy định quyền học tập của công dân và đi kèm là cơ chế đảm bảo cho quyền ấy được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Theo đó, Cơ chế đảm bảo của UDHR là việc tuyên ngôn quy định một số yêu cầu ở điều 29, điều 30 bao gồm: khi thực hiện các quyền, con người chỉ bị hạn chế bởi luật nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự thừa nhận và tôn trọng các quyền tự do của người khác; việc thực hiện các quyền con người không được trái với những nguyên tắc và mục tiêu của Liên hiệp quốc; không được giải thích bất cứ điều nào trong Tuyên ngôn với hàm ý cho phép nhà nước, nhóm người hoặc cá nhân nào tham gia hay thực hiện các hoạt động loại bỏ các quyền, tự do của con người đã nêu trong Tuyên ngôn. Năm 1948, Hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua và công bố quyền con người SVTH: Nguyễn Thị Hòa Trang 11 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S Vũ Thị Bích Hường “mọi người được hưởng quyền giáo dục”.Như vậy, Tuyên ngôn luôn kêu gọi các quốc gia trên thế giới phải tôn trọng và đảm bảo quyền con người, quyền học tập của công dân. Mặc dù không phải là một điều ước quốc tế nhưng UDHR có vai trò cực kì quan trọng, nó được xem là luật tập quán quốc tế về quyền con người, tức là có giá trị bắt buộc đối với mọi quốc gia trên thế giới.
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966. Cụ thể hóa quy định Điều 26 trong UDHR các quy định tại Điều 13 và 14 của ICESCR đã ghi nhận quyền học tập của công dân thông qua việc đề cập quyền được giáo dục của công dân. Việt Nam gia nhập ICESCR vào ngày 24/9/1982. Tại điều 13 ICESCR quy định:“Các quốc gia thành viên Công ước thừa nhận quyền của mọi người được học tập.
Các quốc gia nhất trí rằng giáo dục phải hướng vào việc phát triển đầy đủ nhân cách và ý thức về nhân phẩm, và phải nhằm tăng cường sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người".