Tổng quan nghiên cứu

Thị trường xuất khẩu lao động Việt Nam sang Nhật Bản ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc trong giai đoạn gần đây. Báo cáo của Cục Quản lý Lao động ngoài nước vào tháng 7 năm 2018 cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2018 đã có 60.806 lao động Việt Nam xuất cảnh làm việc tại nước ngoài, đạt 55,1% kế hoạch năm và tăng 106% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, Nhật Bản và Đài Loan chiếm tới 90% tổng thị phần tiếp nhận. Đáng chú ý, thống kê từ Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Xã hội Nhật Bản chỉ ra rằng thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam chiếm tỷ lệ cao nhất trong giai đoạn 2015-2017 với 45,1%, vượt qua Trung Quốc (28,3%) và Philippines (10,1%).

Mặc dù quy mô phát triển nhanh chóng, công tác quản lý và bảo vệ quyền lợi của lực lượng lao động này vẫn bộc lộ nhiều lỗ hổng nghiêm trọng. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài bắt nguồn từ tình trạng thực tập sinh bị phân biệt đối xử, nợ lương, trừ phí bảo hiểm trái quy định, làm việc trong điều kiện nguy hiểm, dẫn đến phát sinh các vụ việc phá vỡ hợp đồng và bỏ trốn cư trú bất hợp pháp. Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa khung pháp lý, đánh giá toàn diện thực trạng bảo vệ quyền lợi của tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam tại Nhật Bản, từ đó kiến nghị các giải pháp quản lý hiệu quả cho các cơ quan chức năng và doanh nghiệp phái cử.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ tháng 7 năm 2010 đến tháng 6 năm 2018, đồng thời khảo sát thực chứng trên 20 tỉnh thành tại Nhật Bản. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học nhằm giảm thiểu trên 30% các vụ tranh chấp lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thúc đẩy quan hệ hợp tác lao động bền vững giữa hai quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết Di cư lao động quốc tế (Lực đẩy - Lực kéo) của Everett Lee (1966) nhằm luận giải động lực dịch chuyển nhân lực giữa hai quốc gia. Lực đẩy xuất phát từ áp lực việc làm, chênh lệch thu nhập và tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi thanh niên tại Việt Nam giai đoạn 2009-2015. Ngược lại, lực kéo hình thành từ hiện tượng già hóa dân số nhanh chóng tại Nhật Bản, tạo ra khoảng trống thiếu hụt hàng trăm nghìn lao động phổ thông tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Lý thuyết Thể chế và Quan hệ công nghiệp của John Dunlop (1958) để phân tích cơ chế tương tác đa tầng giữa ba chủ thể: Nhà nước, doanh nghiệp (phái cử và tiếp nhận) và người lao động. Khung phân tích này làm rõ các khái niệm cốt lõi:

  • Tu nghiệp sinh (Kenshuusei): Lao động nước ngoài tham gia chương trình đào tạo kỹ năng ngắn hạn từ 6 tháng đến 1 năm (áp dụng từ cuối thập niên 1960 đến trước ngày 01/07/2010).
  • Thực tập sinh kỹ năng (Gino Jisshusei): Lao động được chuyển giao kỹ thuật thực hành tại nhà máy, xí nghiệp với thời hạn lưu trú từ 3 đến 5 năm theo Luật Quản lý xuất nhập cảnh sửa đổi năm 2010 và Luật Thực tập kỹ năng năm 2017.
  • Nghiệp đoàn quản lý: Tổ chức phi lợi nhuận của Nhật Bản chịu trách nhiệm giám sát, hướng dẫn các xí nghiệp tiếp nhận thực tập sinh.
  • Cơ quan phái cử: Doanh nghiệp được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam cấp phép đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các văn bản pháp quy của Bộ Tư pháp Nhật Bản, tổ chức JITCO, tổ chức OTIT, số liệu của Tổng cục Thống kê và Hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt Nam (VAMAS).

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra bảng hỏi định lượng kết hợp phỏng vấn sâu. Khảo sát thực hiện từ ngày 24/01/2018 đến ngày 02/04/2018 với cỡ mẫu gồm 77 người, thu về 74 phiếu trả lời hợp lệ (đạt tỷ lệ 96,1%) của các thực tập sinh đang làm việc tại 20 tỉnh thành Nhật Bản. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp quả cầu tuyết được áp dụng, trong đó địa bàn tỉnh Aichi tập trung đông nhất với 22 người tham gia (chiếm 28,5% mẫu). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm tiếp cận trực tiếp nhóm lao động tại hiện trường sản xuất, ghi nhận khách quan các vấn đề phát sinh về điều kiện làm việc, tiền lương và sinh hoạt mà các báo cáo hành chính chưa phản ánh đầy đủ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực chứng đã chỉ ra 4 phát hiện trọng tâm về diện mạo lao động Việt Nam tại Nhật Bản:

Thứ nhất, về cơ cấu ngành nghề, có 52,1% người được hỏi đang làm việc trong các ngành kỹ thuật mũi nhọn như cơ khí, điện tử và gia công kim loại; 32,4% làm việc trong ngành chế biến thực phẩm và thủy hải sản; 15,5% còn lại phân bổ rải rác ở ngành xây dựng, nông nghiệp và may mặc.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng quy mô tiếp nhận diễn ra rất nhanh. Giai đoạn 2015-2017, thị phần thực tập sinh Việt Nam chiếm tới 45,1% tổng số thực tập sinh nước ngoài tại Nhật Bản, vượt xa mức 28,3% của Trung Quốc và gấp hơn 4 lần so với mức 10,1% của Philippines.

Thứ ba, tình trạng vi phạm quyền lợi người lao động diễn ra phổ biến. Khoảng 35% doanh nghiệp tiếp nhận có các hành vi sai phạm liên quan đến kéo dài thời gian làm việc vượt mức quy định, chi trả lương làm thêm giờ thấp hơn mức tối thiểu vùng (vốn dao động từ 737 Yên đến 958 Yên/giờ vào năm 2018), hoặc tự ý thu giữ sổ bảo hiểm và giấy tờ tùy thân.

Thứ tư, áp lực tài chính ban đầu rất lớn khi chi phí xuất cảnh thực tế qua các khâu trung gian dao động từ 5.000 đến 7.000 USD, cao hơn nhiều so với quy định chuẩn, tạo áp lực trả nợ khiến tỷ lệ lao động bỏ trốn ra ngoài làm việc bất hợp pháp có chiều hướng gia tăng trong giai đoạn 2016-2018.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các bất cập trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong công tác thanh tra của các nghiệp đoàn quản lý Nhật Bản và sự quản lý lỏng lẻo của một số doanh nghiệp phái cử tại Việt Nam. Nhiều nghiệp đoàn đóng vai trò trung gian nhưng không thực hiện đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người lao động khi xảy ra tranh chấp với chủ sử dụng.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Iguchi Yasushi (2016) và Phan Cao Nhật Anh (2013, 2018), khi khẳng định rằng bản chất chương trình tiếp nhận thực tập sinh tại nhiều cơ sở sản xuất Nhật Bản vẫn là phương thức tìm kiếm nguồn nhân công giá rẻ cho các công việc 3K (Kitsui - nặng nhọc, Kitanai - bẩn thỉu, Kiken - nguy hiểm), thay vì chuyển giao công nghệ thuần túy.

Trong báo cáo phân tích, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện mức lương tối thiểu theo từng tỉnh thành tại Nhật Bản và bảng cơ cấu tỷ lệ sai phạm của các xí nghiệp tiếp nhận theo từng nhóm ngành nghề để các bên liên quan dễ dàng theo dõi.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện cơ chế bảo vệ thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, siết chặt quản lý và cấp phép hoạt động phái cử. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Cục Quản lý Lao động ngoài nước (DOLAB) cần tăng cường thanh tra định kỳ, xử phạt nghiêm các doanh nghiệp thu phí vượt trần, áp dụng Bộ Quy tắc ứng xử COC-VN để chuẩn hóa hoạt động. Mục tiêu giảm 40% số vụ khiếu nại về tài chính trong giai đoạn 2019-2021.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục định hướng. Các doanh nghiệp phái cử phải kéo dài thời gian đào tạo tiếng Nhật tối thiểu từ 4 đến 6 tháng trước khi xuất cảnh, bảo đảm 100% học viên đạt trình độ N4 hoặc N5 vững chắc, nắm vững Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản và văn hóa ứng xử sở tại trước quý 2 năm 2019.

Thứ ba, thiết lập kênh hỗ trợ và can thiệp pháp lý trực tiếp. Đại sứ quán Việt Nam tại Nhật Bản cần phối hợp chặt chẽ với tổ chức OTIT và Hiệp hội VAMAS vận hành đường dây nóng hỗ trợ 24/7 bằng tiếng Việt, cam kết tiếp nhận và xử lý 100% phản ánh vi phạm hợp đồng trong vòng 48 giờ kể từ khi nhận tin báo.

Thứ tư, hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi. Ngân hàng Chính sách Xã hội cần mở rộng hạn mức cho vay vốn đối với lao động đi làm việc tại Nhật Bản với lãi suất ưu đãi dưới 7%/năm, giúp người lao động giảm phụ thuộc vào các nguồn vay tín dụng đen, hạ thấp chi phí trung gian trong giai đoạn 2019-2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm thứ nhất là các cơ quan hoạch định chính sách và quản lý nhà nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý Lao động ngoài nước, Bộ Ngoại giao). Luận văn cung cấp cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi các hiệp định hợp tác song phương (MOC) và nâng cao hiệu lực quản lý doanh nghiệp phái cử.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động (thành viên Hiệp hội VAMAS). Công trình này là tài liệu tham khảo giá trị giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình tuyển chọn, thiết kế giáo trình đào tạo định hướng và xây dựng phương án ứng phó rủi ro pháp lý cho người lao động tại nước ngoài.

Nhóm thứ ba là các nghiệp đoàn quản lý và doanh nghiệp tiếp nhận tại Nhật Bản. Luận văn giúp các đối tác Nhật Bản thấu hiểu rào cản tâm lý, văn hóa và nguyện vọng của lao động Việt Nam, từ đó cải thiện chế độ đãi ngộ và môi trường làm việc đa văn hóa.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Châu Á học, Đông phương học và Luật quốc tế. Luận văn đóng vai trò là nguồn tài liệu thứ cấp chuẩn xác về thị trường lao động Đông Bắc Á giai đoạn 2010-2018.

Câu hỏi thường gặp

Khái niệm Tu nghiệp sinh và Thực tập sinh kỹ năng khác nhau như thế nào về mặt pháp lý?
Tu nghiệp sinh là chương trình đào tạo kỹ năng ngắn hạn xuất hiện từ cuối thập niên 1960, chưa được công nhận đầy đủ quan hệ lao động. Ngược lại, Thực tập sinh kỹ năng áp dụng theo luật sửa đổi từ ngày 01/07/2010 và Luật năm 2017 cho phép người lao động ký hợp đồng chính thức, hưởng lương và quyền lợi bảo hiểm tương đương công dân Nhật Bản.

Điểm mới quan trọng nhất của Luật Thực tập kỹ năng Nhật Bản ban hành ngày 01/11/2017 là gì?
Luật năm 2017 thành lập tổ chức OTIT trực thuộc chính phủ để thay thế tổ chức JITCO, tăng cường quyền hạn thanh tra đột xuất các xí nghiệp tiếp nhận. Đồng thời, luật bảo đảm quyền lợi pháp lý cho thực tập sinh ngay từ năm đầu tiên nhập cảnh và cho phép kéo dài thời gian làm việc lên 5 năm đối với đơn vị đạt chuẩn.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng thực tập sinh Việt Nam bỏ trốn ra ngoài là gì?
Khảo sát chỉ ra nguyên nhân chính là gánh nặng nợ nần từ chi phí xuất cảnh ban đầu quá cao (khoảng 5.000 đến 7.000 USD) kết hợp với thu nhập thực tế không như cam kết do bị xí nghiệp cắt giảm giờ làm thêm, ép buộc lao động hoặc đối xử bất công tại nơi làm việc.

Tổ chức OTIT đóng vai trò gì trong việc bảo vệ thực tập sinh kỹ năng nước ngoài?
OTIT có thẩm quyền cấp phép, giám sát hoạt động của các nghiệp đoàn quản lý và xí nghiệp tiếp nhận, tổ chức các cuộc kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất, tiếp nhận khiếu nại của thực tập sinh bằng tiếng mẹ đẻ và xử lý các hành vi vi phạm Luật Tiêu chuẩn lao động của chủ sử dụng.

Người lao động cần chuẩn bị những kỹ năng nền tảng nào trước khi sang Nhật Bản làm việc?
Người lao động cần tích lũy năng lực tiếng Nhật tối thiểu đạt trình độ N4, rèn luyện tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và hiểu rõ các quyền lợi pháp lý ghi trong hợp đồng ngoại để chủ động tự bảo vệ bản thân khi xảy ra tranh chấp.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua những đóng góp nổi bật sau:

  • Hệ thống hóa toàn diện quá trình chuyển đổi thể chế từ chương trình tu nghiệp sinh sang thực tập sinh kỹ năng từ năm 1993 đến năm 2018.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng chi tiết về cơ cấu ngành nghề (52,1% cơ khí, điện tử) và điều kiện sống của thực tập sinh tại 20 tỉnh thành Nhật Bản.
  • Làm rõ các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền lợi của lao động Việt Nam tại thị trường Nhật Bản.
  • Đánh giá vai trò giám sát mới của tổ chức OTIT theo Luật Thực tập kỹ năng năm 2017 trong việc bảo đảm quyền con người cho lao động nhập cư.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp khả thi, đồng bộ từ khâu tuyển chọn, đào tạo đến bảo vệ pháp lý song phương.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan quản lý và doanh nghiệp phái cử triển khai ngay các quy chuẩn đào tạo và cơ chế tiếp nhận khiếu nại trong giai đoạn 2019-2023. Các bên liên quan cần chung tay hành động để xây dựng môi trường phái cử minh bạch, bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.