Đặc trưng văn hóa dân tộc qua tư duy ngôn ngữ và tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể

Khám phá đặc trưng văn hóa dân tộc qua tư duy ngôn ngữ với hiện tượng tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể trong tiếng Anh và tiếng Việt.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2010

90
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

Lí do chọn đề tài

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi tài liệu nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đóng góp của luận văn

Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA

1.1. Khái lược về nguồn gốc thuật ngữ “từ đồng nghĩa”

1.2. Khái niệm từ đồng nghĩa

1.2.1. Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa

1.2.2. Quan điểm của các nhà việt ngữ học về từ đồng nghĩa

1.2.3. Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài về từ đồng nghĩa

1.2.4. Các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa

1.2.5. Quan niệm của luận văn về từ đồng nghĩa

1.3. Phân loại từ đồng nghĩa

1.3.1. Các từ đồng nghĩa ý niệm

1.3.2. Các từ đồng nghĩa phong cách

1.3.3. Các từ đồng nghĩa ý niệm – phong cách

1.3.4. Từ đồng nghĩa - một trong những nhân tố tạo nên đặc trưng văn hoá - dân tộc của tư duy ngôn ngữ

2. CHƯƠNG 2: TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH

2.1. Nguồn gốc, đặc điểm loại hình ngôn ngữ Anh

2.1.1. Sơ lược về nguồn gốc ngôn ngữ Anh

2.1.2. Đặc điểm loại hình ngôn ngữ Anh

2.2. Kết quả thống kê về nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.3. Đặc điểm từ loại của các từ ngữ đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4. Đặc điểm ngữ nghĩa của tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.1. Kiểu ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.2. Phân loại tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.3. Tên gọi đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.4. Tên gọi đồng nghĩa phong cách chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.5. Tên gọi đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.4.6. Ý nghĩa biểu trưng của một số tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh

2.5. Tiểu kết

3. CHƯƠNG 3: TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG VIỆT

3.1. Nguồn gốc, đặc điểm loại hình tiếng Việt

3.1.1. Sơ lược về nguồn gốc tiếng Việt

3.1.2. Đặc điểm loại hình tiếng Việt

3.2. Kết quả thống kê nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.3. Đặc điểm cấu tạo tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.4. Đặc điểm ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.4.1. Kiểu ngữ nghĩa của các tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.4.2. Phân loại tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.4.2.1. Tên gọi đồng nghĩa tuyệt đối chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt
3.4.2.2. Tên gọi đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt
3.4.2.2.1. Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người khác nhau ở tính cụ thể hay trừu tượng của ý nghĩa được biểu đạt
3.4.2.2.2. Các từ đồng nghĩa ý niệm chỉ bộ phận cơ thể con người khác nhau về mức độ rộng hẹp của ý nghĩa
3.4.2.3. Tên gọi đồng nghĩa phong cách chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.5. Tính chất biểu trưng của một số tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt

3.6. Vấn đề sử dụng từ đồng nghĩa trong tiếng Việt hiện nay

4. CHƯƠNG 4: ĐỐI CHIẾU TÊN GỌI ĐỒNG NGHĨA CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ CON NGƯỜI TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

4.1. So sánh đặc điểm từ loại của nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt

4.2. So sánh đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa nhóm tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tiếng Việt

4.3. So sánh kiểu ngữ nghĩa tên gọi đồng nghĩa thứ sinh chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

4.4. So sánh "liều lượng" các tiểu loại tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và trong tiếng Việt

4.5. So sánh đối chiếu tính chất biểu trưng tình cảm bằng bộ phận tim trong tiếng Anh và bụng trong tiếng Việt

4.6. Nguyên nhân của những sự khác biệt

4.6.1. Khác biệt về loại hình ngôn ngữ

4.6.2. Khác biệt về đặc trưng văn hóa dân tộc và tư duy ngôn ngữ

4.6.3. Sự khác biệt về hoàn cảnh xã hội

4.7. Ứng dụng thực tiễn của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa trong việc dạy/học tiếng Anh và tiếng Việt với tư cách là ngoại ngữ

4.7.1. Ứng dụng của việc nghiên cứu từ đồng nghĩa

4.7.2. Dạy/ học từ ngữ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về đặc trưng văn hóa trong tư duy ngôn ngữ

Đặc trưng văn hóa trong tư duy ngôn ngữ là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, giúp hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ phản ánh bản sắc văn hóa của một dân tộc. Tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể là một ví dụ điển hình cho sự phong phú và đa dạng trong ngôn ngữ. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện các từ đồng nghĩa mà còn khám phá ý nghĩa sâu xa của chúng trong bối cảnh văn hóa.

1.1. Khái niệm tư duy ngôn ngữ và văn hóa

Tư duy ngôn ngữ là cách mà con người sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt ý tưởng và cảm xúc. Văn hóa ảnh hưởng đến cách mà ngôn ngữ được hình thành và phát triển. Sự kết hợp giữa tư duy ngôn ngữ và văn hóa tạo ra những đặc trưng riêng biệt cho mỗi ngôn ngữ.

1.2. Tên gọi đồng nghĩa và vai trò của chúng

Tên gọi đồng nghĩa không chỉ đơn thuần là các từ có nghĩa giống nhau mà còn mang theo những sắc thái văn hóa khác nhau. Chúng phản ánh cách mà người dân trong một nền văn hóa cụ thể nhìn nhận và cảm nhận về các bộ phận cơ thể.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa

Nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể gặp nhiều thách thức, từ việc xác định các từ đồng nghĩa đến việc phân tích ý nghĩa văn hóa của chúng. Sự đa dạng trong cách sử dụng từ ngữ có thể dẫn đến những hiểu lầm và khó khăn trong việc truyền đạt thông điệp.

2.1. Khó khăn trong việc xác định từ đồng nghĩa

Việc xác định từ đồng nghĩa không phải lúc nào cũng dễ dàng. Nhiều từ có thể có nghĩa tương tự nhưng lại không thể thay thế cho nhau trong mọi ngữ cảnh. Điều này đòi hỏi người nghiên cứu phải có kiến thức sâu rộng về ngôn ngữ và văn hóa.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa đến ngôn ngữ

Văn hóa có thể ảnh hưởng đến cách mà từ ngữ được sử dụng và hiểu. Những từ đồng nghĩa có thể mang ý nghĩa khác nhau trong các bối cảnh văn hóa khác nhau, điều này tạo ra thách thức cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ.

III. Phương pháp nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể

Để nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể, cần áp dụng các phương pháp phân tích ngôn ngữ và văn hóa. Việc sử dụng phương pháp đối chiếu giữa các ngôn ngữ sẽ giúp làm rõ hơn những điểm tương đồng và khác biệt trong cách gọi tên các bộ phận cơ thể.

3.1. Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ

Phương pháp đối chiếu giúp so sánh các tên gọi đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt. Qua đó, có thể nhận diện được những đặc trưng văn hóa trong tư duy ngôn ngữ của mỗi dân tộc.

3.2. Phân tích ngữ nghĩa và biểu tượng

Phân tích ngữ nghĩa của các từ đồng nghĩa sẽ giúp hiểu rõ hơn về cách mà các bộ phận cơ thể được nhìn nhận trong văn hóa. Những biểu tượng liên quan đến các bộ phận cơ thể cũng sẽ được khám phá để làm rõ hơn về tư duy văn hóa.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa

Nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Việc hiểu rõ về cách sử dụng từ ngữ sẽ giúp cải thiện khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa cho người học.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc giảng dạy từ vựng cho người học tiếng Anh và tiếng Việt. Việc sử dụng các ví dụ thực tế sẽ giúp người học dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ.

4.2. Tăng cường hiểu biết văn hóa

Nghiên cứu này cũng giúp người học hiểu rõ hơn về văn hóa của các dân tộc khác nhau thông qua cách mà họ gọi tên các bộ phận cơ thể. Điều này sẽ góp phần làm phong phú thêm trải nghiệm giao tiếp của người học.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa

Nghiên cứu tên gọi đồng nghĩa bộ phận cơ thể là một lĩnh vực phong phú và đầy tiềm năng. Việc tiếp tục khai thác và nghiên cứu sâu hơn sẽ giúp làm rõ hơn về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa, từ đó nâng cao hiểu biết về tư duy ngôn ngữ của các dân tộc.

5.1. Tương lai của nghiên cứu ngôn ngữ

Nghiên cứu ngôn ngữ sẽ tiếp tục phát triển, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa. Việc hiểu rõ về tên gọi đồng nghĩa sẽ giúp tăng cường khả năng giao tiếp và hiểu biết văn hóa giữa các dân tộc.

5.2. Khuyến khích nghiên cứu liên ngành

Khuyến khích các nghiên cứu liên ngành giữa ngôn ngữ học, văn hóa học và xã hội học sẽ giúp làm phong phú thêm kiến thức về tên gọi đồng nghĩa và tư duy ngôn ngữ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đặc trưng văn hóa dân tộc của tư duy ngôn ngữ qua hiện tượng tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trên tư liệu tiếng anh và tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lí luận chung về từ đồng nghĩa Chương 2: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh Chương 3: Tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt Chương 4: Đối chiếu tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Anh và tên gọi đồng nghĩa chỉ bộ phận cơ thể con người trong tiếng Việt. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỪ ĐỒNG NGHĨA 1. KHÁI LƢỢC VỀ NGUỒN GỐC THUẬT NGỮ “TỪ ĐỒNG NGHĨA” Theo “Đại từ điển Bách khoa Xô Viết”, tập 23 [114], thuật ngữ chỉ hiện tượng đồng nghĩa có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp. * Được viết dưới dạng tiếng Hi Lạp: Synònymia: có nghĩa là “cùng tên”, chỉ quan hệ giữa hai biểu thức đẳng nghĩa nhưng không đồng nhất.

Tính chất đẳng nghĩa ở đây được hiểu là tính tương ứng hoặc là với cùng một biểu vật (denotat) (sự kiện, khách thể, v.v…), hoặc là với cùng một biểu niệm (signifikat) (cái được biểu hiện thuộc ngôn ngữ) (dẫn theo Nguyễn Đức Tồn [44, tr. * Được viết dưới dạng tiếng Anh: Synonymy: có nghĩa là “hiện tượng đồng nghĩa”. KHÁI NIỆM TỪ ĐỒNG NGHĨA 1. Phân biệt ba khái niệm cơ bản: hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa 1.

Hiện tượng đồng nghĩa Theo tác giả Nguyễn Đức Tồn thì đồng nghĩa là một trong những khái niệm có tính nền tảng của ngôn ngữ học, cũng như của Logic học, ngữ nghĩa logic và của kí hiệu học.1] đã trình bày, tính chất đẳng nghĩa được hiểu theo hai hướng, tính tương ứng hoặc là cùng với một biểu vật: Ví dụ : Sân bay và phi trường, nhãn và mắt Hoặc là tương ứng cùng với một biểu niệm: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ví dụ: To và lớn, gan dạ và dũng cảm Tuy nhiên, trong ngôn ngữ học, hiện tượng đồng nghĩa biểu niệm là đối tượng nghiên cứu chủ yếu. Hiện tượng đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các hình vị (ví dụ: bất-phi- vô), đơn vị từ vựng đồng nghĩa (ví dụ: mẹ và má, v.v…), hoặc giữa các kết cấu cú pháp, chẳng hạn trong tiếng Nga: âûøåÌàøè và âûøå,÷åì Ìàøè(cao hơn Ma Sa). Đơn vị từ vựng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa Các đơn vị từ vựng không chỉ có từ mà còn có các cụm từ cố định có chức năng tương đương với từ, chẳng hạn các thành ngữ. Do đó, hiện tượng đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các từ: Ví dụ: Trong tiếng Việt: bố và cha; nông và cạn.v… Trong tiếng Anh: rich – wealthy ( giàu); Hiện tượng đồng nghĩa còn có thể xảy ra giữa các cụm từ cố định: Ví dụ: Nước đổ lá khoai và nước đổ đầu Vịt; Oản ít bụt nhiều và Mật ít ruồi nhiều.v… Ví dụ: hiện tượng Đồng nghĩa cụm từ tiếng Anh: Bad news travels fast - No news is good news (Tin dữ lan nhanh ) Từ những ví dụ đã được dẫn ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: “Từ đồng nghĩa là trường hợp riêng quan trọng nhất nằm trong “đơn vị từ vựng đồng nghĩa” và “đơn vị từ vựng đồng nghĩa, từ đồng nghĩa” đều thuộc “hiện tượng đồng nghĩa” của ngôn ngữ [44, tr.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quan điểm của các nhà Việt ngữ học về từ đồng nghĩa Trong Việt ngữ học, các nhà nghiên cứu cũng đã rất quan tâm đến từ đồng nghĩa. Nhà Việt ngữ học Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng: “Trong vốn từ hội của bất cứ một ngôn ngữ nào cũng thường có những từ mặc dù hình thức ngữ âm hoàn toàn khác nhau nhưng từ nghĩa lại giống nhau. Do đó trong nhiều hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể có thể thay thế cho nhau được.

Những từ này là những từ đồng nghĩa” [2, tr. Quan điểm của Đỗ Hữu Châu về từ đồng nghĩa, theo chúng tôi, còn ít nhiều chưa được cụ thể, bởi vì tác giả mới chỉ đề cập tới “hình thức ngữ âm khác nhau; từ nghĩa giống nhau; tiếp đó là các từ đồng nghĩa có thể thay thế cho nhau trong nhiều hoàn cảnh”, mà chưa đề cập tới “mức độ giống nhau về ý nghĩa của các từ “đến mức nào thì mới được coi là đồng nghĩa”. Sau khi nghiên cứu sâu hơn về từ đồng nghĩa, năm 1981, ông đưa ra quan niệm khác về từ đồng nghĩa như sau: “Từ đồng nghĩa là những từ thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản” [3, tr. Mặc dù vậy, quan niệm trên về từ đồng nghĩa của ông vẫn chưa giúp giải quyết được các vấn đề sau: Thứ nhất, đúng là có những từ đồng nghĩa thay thế cho nhau được trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi.

Nhưng không phải tất cả các từ đồng nghĩa đều có thể thay thế cho nhau trong cùng một ngữ cảnh (…) Thứ hai, có những từ thay thế được cho nhau trong một ngữ cảnh mà ý nghĩa của ngữ cảnh không thay đổi về cơ bản, song chúng không phải là những từ đồng nghĩa [44, tr. Tiếp theo, trên cơ sở nhận thức lại về từ đồng nghĩa như vậy, Đỗ Hữu Châu đưa ra quan niệm mới về từ đồng nghĩa: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Hiện tượng Đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tuỳ theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa chung (nét nghĩa phạm trù). Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau.

Mức độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó” [3, tr. Theo ý kiến của chúng tôi, quan niệm về từ đồng nghĩa vừa trình bày là quá rộng. Hơn thế nữa, tác giả coi cả các từ chỉ có một nét nghĩa chung nhất giống nhau là những từ đồng nghĩa mà không nhận ra rằng, trong thực tế nghiên cứu, các từ cần thiết có ý nghĩa gần nhau đến một "mức độ nhất định" thì mới được coi là những từ đồng nghĩa. Cố phó giáo sư Nguyễn Văn Tu - nhà Việt ngữ học, trong công trình đầu tiên của mình, đó là cuốn "Từ vựng học tiếng Việt hiện đại" xuất bản năm 1968 đã đưa ra quan niệm về từ đồng nghĩa như sau: "Những từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau.

Đó là nhiều từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng trong những từ đồng nghĩa có một chỗ chung là việc định danh”. Chúng tôi cho rằng, định nghĩa trên của tác giả Nguyễn Văn Tu là hơi hẹp. Bởi một lẽ, định nghĩa mới chỉ quan tâm tới từ đồng nghĩa biểu vật, chưa đề cập tới từ đồng nghĩa biểu niệm.

Định nghĩa trên chỉ là định nghĩa thuần tuý ở phương diện lí thuyết. Năm 1985, trong cuốn “Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1985", ông đã đưa ra một cách hiểu khác về từ đồng nghĩa: “Thực ra những từ đồng nghĩa là những từ của một thứ tiếng có nghĩa biểu đạt (chỉ sự vật, hiện tượng, tính chất, v.v…) giống nhau hoặc gần nhau, có thể thay thế cho nhau trong một số ngữ cảnh nhất định nhưng có khác nhau về sắc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thái tình cảm, về giá trị gợi cảm, về phong cách, phạm vi sử dụng.v… Đó là những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Đó là những tên khác nhau của một hiện tượng. Những từ này có điểm chung về chức năng định danh.

Nói rộng ra, những từ đồng nghĩa là những từ cùng chỉ một khái niệm [46, tr. Với cách hiểu như trên, tác giả Nguyễn Văn Tu đã nêu cụ thể hơn và có sự mở rộng hơn quan niệm về từ đồng nghĩa. Tuy nhiên, tác giả chưa phân biệt rõ khái niệm “chủng” và khái niệm “loại’. Vì vậy, tác giả đã coi chúng là từ đồng nghĩa.

Ví dụ: Đầm – Hồ – Chuôm Nhà Việt ngữ học Nguyễn Thiện Giáp lại tán thành quan điểm của P. Trên cơ sở đó ông đã đưa ra quan niệm của mình về từ đồng nghĩa như sau: “Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu. Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho rằng “Từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm” (dẫn theo Nguyễn Thiện Giáp [17, tr. Hạn chế trong quan niệm của tác giả P.

Bu - đa - gốp và Nguyễn Thiện Giáp là ở chỗ mới chỉ đề cập đến từ đồng nghĩa biểu niệm, còn trường hợp từ đồng nghĩa biểu vật thì hoàn toàn không nhắc tới. Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Hoàng Trọng Phiến, Vũ Đức Nghiệu trong cuốn "Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, tr. 195" đã đưa ra một quan niệm về từ đồng nghĩa theo xu hướng: Thứ nhất, dựa vào đối tượng được gọi tên; Thứ hai, dựa vào khái niệm do từ biểu thị. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa.

Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc dù phát hiện sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng). Chính sự dị biệt đó lại là lí do tồn tại và làm nên những giá trị khác nhau giữa các từ trong một nhóm từ đồng nghĩa. Rõ ràng tính đồng nghĩa có những mức độ khác nhau. Và theo các tác giả thì từ “đồng nghĩa là những từ tương đối giống với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách nào đó, hoặc đồng thời cả hai” [23, tr.

Tác giả Nguyễn Trung Thuần trong bài viết “Thử tìm hiểu từ trung tâm trong nhóm từ đồng nghĩa đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ” đã viết: “Từ đồng nghĩa là những từ khác nhau về vỏ ngữ âm nhưng giống nhau về nghĩa (biểu thị hay diễn đạt) và có thể thay thế cho nhau trong những ngữ cảnh tiêu biểu mà nội dung thông báo vốn được giữ nguyên” [45, tr. Quan điểm của các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài về từ đồng nghĩa Nhóm tác giả A.D Gri - gô - re- va và V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ