Chương 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ PHẦN PHỤ CHÚ 1. Khái quát về phần phụ chú 1.1 Giới nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới Khái niệm về thành phần phụ chú phụ thuộc khá nhiều vào tên gọi của nó. Trong tiếng Anh, phụ chú được gọi là cú giải thích (comment clause) và phần trong ngoặc (parenthesis). Qurik, Cú giải thích được coi là “phần biệt lập kiểu trong ngoặc” (comment clause are parenthetical disjuncts), “một cú dùng để chú thích cho một cú khác trong câu” (comment clause: a clause which comments on another clause in a sentence); ở một chỗ khác, tác giả viết Cú giải thích là “một lời chú thích thêm, thường theo kiểu đặt trong ngoặc đơn, cho một cú khác” (A comment added, often parenthetically, to another clause).
Chúng có thể xuất hiện ở đầu hoặc ở cuối hoặc giữa câu, và bởi thế nói chung mang một âm điệu tách rời. Cú giải thích cũng là phần biệt lập về mặt nội dung, dùng để diễn đạt những lời giải thích của người nói đối với nội dung của câu chứa chúng, hoặc là biệt lập về mặt phong cách, dùng để kèm thêm cách nhìn của người nói đối với cách nói đang được dùng [61: 112]. Ví dụ: - He is, I believe, an American. -Coming from you, that sounds surprising.
* Theo Asher, Phần trong ngoặc “là một phần chêm có tính chất mở rộng trong một văn bản”. Ví dụ: I saw him – John that is – yesterday (Tôi đã gặp hắn – cái anh chàng John ấy mà – hôm qua).2 Giới nghiên cứu Việt ngữ học Cách hiểu về phần phụ chú vẫn chưa có sự thống nhất. Dựa vào quan điểm của các nhà nghiên cứu, có thể chia thành 2 khuynh hướng: a. Khuynh hướng 1 Khuynh hướng này bao gồm những quan điểm cho rằng thành phần phụ chú là một thành phần phụ nằm trong câu, được dùng để giải thích hay bổ sung nghĩa cho thành phần câu đứng trước nó (tức nó chỉ có quan hệ với bộ phận nào đó của câu) và có cùng chức năng ngữ pháp với bộ phận này.
Đại diện cho khuynh hướng này có thể kể đến Hoàng Trọng Phiến, Hữu Quỳnh…. Hoàng Trọng Phiến gọi thành phần phụ chú là đồng vị ngữ, ông định nghĩa: đồng vị ngữ là “những từ khác nhau cùng biểu hiện một biểu vật, có cùng chức năng ngữ pháp của thành phần trước đó” [40: 148]. “Đó là thành phần có tổ chức riêng, có cùng vị trí, chức năng của thành phần trước đó. Chức năng của nó là chú thích thêm cho rõ nghĩa của thành phần trước nó” [39: 146] và “có thể bỏ đi cũng không phương hại gì đến cấu trúc câu và ý nghĩa cơ bản của câu” [40: 148].
Ví dụ: Hà Nội – thủ đô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là nơi đại diện cho nền văn hóa của dân tộc ta Còn Hữu Quỳnh [42] gọi đây là thành phần xen và xác định nội dung của nó như sau: “thành phần có tác dụng nói rõ thêm nội dung của một từ hay nhóm từ ở trong câu, về ý nghĩa, nó giống như lời chú thích, bổ sung đối với một điều nào đó trong câu. Về mặt cấu tạo ngữ pháp, nó không phải là thành phần trong nòng cốt câu; nó thường được đặt tiếp sau từ hay nhóm từ mà nó có quan hệ về ý nghĩa” [42: 135]. Khuynh hướng 2 Khuynh hướng này được hầu hết các nhà nghiên cứu Việt ngữ học tán đồng. Đây là quan điểm cho rằng phụ chú không chỉ là thành phần phụ giải thích cho một thành phần hay một bộ phận nào đó của câu mà nó còn được dùng để giải thích, bổ sung một điều cần chú thích cho toàn câu, hoặc những đơn vị lớn hơn câu, nó không đồng chức năng ngữ pháp với bộ phận được nó chú thích.
* Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê [12] dùng khái niệm giải từ (tức phụ chú) và phân biệt giải từ của bậc cụm từ (ông gọi là “từ kết”) với giải từ bậc câu. - Giải từ ở bậc cụm từ được xác định “là tiếng dùng để giải thích một tiếng khác, chứ không thêm nghĩa. Giải từ đứng sau tiếng chính” [12: 252]. Trong các ví dụ, tác giả có dẫn ra ví dụ lấy từ tác phẩm của Trần Tế Xương: Bắt chước ai ta chúc mấy lời, Chúc cho khắp hết cả trên đời, Vua quan sĩ thứ, người muôn nước, Sao được cho ra cái giống người.
- Giải từ bậc câu “là tiếng dùng để giải thích một việc hay nhiều việc” [12: 583]. Ví dụ: Tối ba mươi nghe pháo nổ đùng: òa! tết! Sáng mồng một đụng nêu kêu cộp: ủa! xuân! * Nguyễn Kim Thản [44] dùng hai tên gọi đồng vị ngữ và phụ chú ngữ theo hai cách hiểu: Đồng vị ngữ được định nghĩa là “khác ngữ đồng vị ở chỗ nó đứng biệt lập, không nhập vào từ tổ với từ mà nó giải thích. Đồng vị ngữ trong tiếng Việt bao giờ cũng là danh từ đứng sau từ mà nó giải thích, và có thể xen vào sau bất kì thành phần nào [44: 222]. Để minh họa cho khái niệm này, tác giả đã đưa ra ví dụ: Đích bèn chung vốn với Oanh, một bạn gái đồng sự của y.
Còn phụ chú ngữ thì giải thích thêm một từ nào đó hoặc dùng để tỏ thái độ chủ quan của người nói đối với sự vật, hoạt động hay trạng thái nêu ra trong câu [44: 225]. Như vậy, theo cách giải thích của Nguyễn Kim Thản thì phụ chú vừa hẹp hơn (loại trừ cái gọi là “đồng vị ngữ” ra khỏi phụ chú), vừa rộng hơn (cộng thêm cái mà một số tác giả khác coi là “phần tình thái”) so với quan niệm của nhiều tác giả khác. Sau này, Nguyễn Kim Thản lại dùng thuật ngữ “gia ngữ” [45] và định nghĩa: Gia ngữ là phần phụ có tác dụng giải thích thêm nội dung của một từ, một cụm từ nào đó, hoặc chú thích thái độ tình cảm của người nói, người viết. Gia ngữ bao giờ cũng đặt ở sau từ, cụm từ được giải thích thêm, hoặc được chú thích thêm, và thường xen vào giữa lời nói.
Gia ngữ thường đặt sau một quãng ngắt nhỏ thể hiện trên chữ viết bằng một dấu phẩy hay một dấu gạch ngang (-) và kết thúc bằng một quãng ngắt nhỏ [45: 53]. Ví dụ: Thưa ông – người lạ mặt hỏi – có phải ông là ông Hai không ạ? Các tác giả của Uỷ ban Khoa học xã hội Việt Nam [49] cho rằng thành phần phụ chú là “thành phần bổ sung một điều chú thích kịp thời hoặc cho cả nòng cốt câu hoặc cho một yếu tố thuộc bậc cấu tạo thành phần trước đó [49:191]. Thành phần phụ chú còn được gọi bằng hai thuật ngữ: giải thích ngữ và chú thích ngữ dựa vào vào ý nghĩa, cấu tạo và đặc trưng ngữ pháp. Theo quan niệm của các nhóm tác giả Lê Cận, Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung [8]: - Giải thích ngữ là thành phần biệt lập dùng để giải thích thêm cho nội dung của từ hoặc cụm từ làm thành phần câu hay thành tố phụ trong cụm từ [8: 204]; có vị trí ngay sau từ mà nó giải thích, được ngăn cách với từ này bằng một quãng ngắt, được biểu thị bằng dấu phẩy, dấu ngang hoặc dấu ngoặc đơn và có cấu tạo thường do danh từ hoặc cụm danh từ đảm nhiệm.
- Chú thích ngữ là “thành phần biệt lập dùng để chú thích thêm tình cảm, thái độ, cảm tưởng, ý nghĩ của người nói về một ý nào đấy do một bộ phận nào đấy trong câu biểu thị; có vị trí thường đứng liền sau bộ phận mà nó chú thích, tách khỏi bộ phận này bằng một quãng ngắt được đánh dấu bằng vạch ngang hoặc bằng một dấu ngoặc đơn”; có cấu tạo do cụm từ, câu, hoặc có khi cả một đoạn văn gồm nhiều câu biểu thị [8: 207]. Như vậy, nội dung của “thành phần biệt lập” cũng không có gì khác “thành phần xen” và “thành phần phụ chú” đã nói ở trên. Diệp Quang Ban [1] phân biệt giải ngữ của câu với giải ngữ của từ như sau: “Giải ngữ của câu thường đứng giữa chủ ngữ và vị ngữ hoặc đứng sau nòng cốt câu, cũng có kiểu có thể đứng trước nòng cốt câu. Giải ngữ của câu được dùng làm sáng tỏ thêm về một phương diện nào đó có liên quan gián tiếp đến câu làm cho người nghe hiểu câu nói đúng hơn, rõ hơn.
Thông thường nội dung của giải ngữ câu là sự bổ sung các chi tiết, là sự bình phẩm về việc nói trong câu, làm rõ xuất xứ câu, làm rõ thái độ, cách thức đi kèm khi câu được diễn đạt [1: 200]. Giải ngữ của từ được coi là phần phụ “được dùng để thuyết minh thêm nội dung hay giải thích thêm một khía cạnh nào đó của từ mà nó phụ thuộc về nghĩa (…). Giải ngữ thường đứng sau từ nó có quan hệ nghĩa, Tuy nhiên cũng không hiếm trường hợp không có sự liên hệ trực tiếp về không gian tuyến tính như vậy. Trên chữ viết, giải ngữ thường được tách biệt bằng hai dấu chấm, dấu ngang, dấu phẩy, hoặc dấu ngoặc đơn.
Khi đọc, giải ngữ thường được phát âm nhỏ hơn và nhanh hơn [1: 239-240]. Gần đây, Diệp Quang Ban [5] lại cho rằng phần phụ chú là một bộ phận có tính chất trung gian. Theo ông “phần phụ chú có thể nằm trong hoặc không nằm trong hoặc không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu chứa nó, với chức năng nghĩa là làm sáng tỏ thêm phương diện nào đó có liên quan đến nghĩa cả câu, giúp cho người đọc người nghe hiểu rõ hơn, hiểu đúng hơn nội dung của câu hoặc ý định của người nói. - Còn Hồ Lê [36] nói về phụ chú với cách gọi: phụ chú ngữ.
Theo ông phụ chú ngữ có hai dạng: Đồng danh ngữ (“từ tổ danh từ dùng để nói rõ hơn về đối tượng do danh từ hoặc đại danh từ đứng trước nó biểu thị”[36: 405]) và Đoạn chú thích (“một ý riêng” nào đó được “xen vào” “để giải thích hoặc lưu ý thêm một điều gì đó. Ý riêng này được biểu đạt bằng một từ tổ động từ hoặc bằng cú và không đồng thành phần, đồng chức năng với bất cứ thành phần nào, bộ phận nào trong câu) Ví dụ: Vội vàng (ấy, cũng cái kiểu vội vàng cố hữu đó mà), ông ba kéo tay mấy ông bạn già vào giữa phòng. Đoạn chú thích trên có tác dụng lưu ý thêm về cách thức vội vàng của ông Ba. Theo tác giả, bỏ nó đi câu vẫn nguyên vẹn là câu cách thức – hành động.