phần mở đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc chúng tôi chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung Chƣơng 2: Biểu hiện hình thức của tít trên Báo Tuổi trẻ Chƣơng 3: Biểu hiện ngữ nghĩa của tít trên Báo Tuổi trẻ. e 9 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Những vấn đề cơ bản về ngôn ngữ 1. Khái niệm ngôn ngữ? Mar - Engels đã chứng minh rằng: “ ngôn ngữ là sản phẩm được tạo thành từ một loại vật chất đặc biệt là bộ óc của con người”.
Chính chỗ này là ranh giới của sự khác biệt giữa ngôn ngữ loài ngƣời với ngôn ngữ của các loài động vật có khả năng tổ chức cao nhƣ loài ong, loài kiến,… Còn Noam Chomsky - ngƣời khởi xƣớng ngôn ngữ tạo sinh lại khẳng định: “Khả năng sử dụng ngôn ngữ là một đặc điểm quyết định phân biệt con người với động vật”. Ngôn ngữ của loài ngƣời khác với các hệ thống giao tiếp (hiểu theo nghĩa thông báo) của các loài vật trƣớc hết ở chỗ nó là công cụ để diễn đạt kết quả của tƣ duy và phục vụ cho tƣ duy tự do. Trong các hệ thống giao tiếp khác ở loài vật bị gắn chặt với kích thích và phản xạ từ thế giới bên ngoài, bị gắn liền với cái đang xảy ra khi con vật phát tín hiệu thì ngôn ngữ của loài ngƣời thoát khỏi tất cả những ràng buộc đó. Ngôn ngữ của con ngƣời chẳng những biểu hiện cái đang xảy ra mà còn thể hiện cái đã xảy ra và cả cái chƣa hề có, cả những kết quả xây dựng bằng trí tuệ, bởi tƣ duy, chỉ tồn tại trong tƣ duy.
Ra đời từ lao động, trở thành phƣơng tiện để giao tiếp, công cụ để tƣ duy, ngôn ngữ đã gắn bó chặt chẽ với xã hội loài ngƣời. Tuy nhiên không đơn thuần chỉ mang bản chất xã hội, ngôn ngữ còn là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt. Trong các hiện tƣợng xã hội, chủ nghĩa Mác phân biệt cơ sở hạ tầng và kiến trúc thƣợng tầng. Với ngôn ngữ, nó không thuộc kiến trúc thƣợng tầng cũng chẳng nằm ở cơ sở hạ tầng.
Tất cả các hiện tƣợng xã hội khác khi quan niệm thay đổi, khi kiến trúc thƣợng tầng thay đổi thì chúng cũng thay đổi nhƣng với ngôn ngữ thì không vì thế mà thay đổi. Chính vì thế ngôn ngữ e 10 không phụ thuộc vào kiến trúc thƣợng tầng. Các hiện tƣợng xã hội khác đều mang tính giai cấp nhƣng với ngôn ngữ thì không, vì nó phục cho lợi ích của mọi giai cấp. Theo Marr “Ngôn ngữ cũng mang tính giai cấp vì mỗi tầng lớp khác nhau lại có cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau”.
Thực ra việc sử dụng ngôn ngữ là tùy thuộc vào ý thức cá nhân và môi trƣờng giao tiếp cho nên không thể coi đó là tính giai cấp của ngôn ngữ. Ngoài ra, nếu các hiện tƣợng xã hội khác phát triển theo quy luật đột biến, biến đổi theo các cuộc cách mạng thì ngôn ngữ cũng phát triển nhƣng là phát triển theo quy luật kế thừa, từ từ và không đột biến. Khác với các hiện tƣợng xã hội khác quan hệ với kiến trúc thƣợng tầng là quan hệ đơn giản, ngôn ngữ thì trực tiếp chỉ đạo vào đời sống. Vậy ngôn ngữ là gì? Trong “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” tác giả đã định nghĩa về ngôn ngữ nhƣ sau: “Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu phát sinh tự nhiên, phát triển có quy luật và mang đặc trưng xã hội” [39;82].
Ngôn ngữ báo chí 1. Khái niệm ngôn ngữ báo chí GS.TS Nguyễn Đức Dân đã khẳng định: “Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ sự kiện, thứ ngôn ngữ khách quan về những hoạt động, những gì đang xảy ra đúng như hiện thực khách quan, không thêm thắt những nhận xét, bình luận chủ quan của nhà báo” [8;30]. Theo “Từ điển thuật ngữ báo chí truyền thông” của Phạm Thành Hƣng “Ngôn ngữ báo chí là ngôn ngữ đặc trưng của quá trình truyền tải thông tin báo chí. Báo in truyền thống bao gồm nhiều thể loại: tin tức, tường thuật, phóng sự, phỏng vấn, bình luận… mỗi thể loại lại có những yêu cầu về ngôn ngữ riêng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại.
Sự đa dạng của thể loại dẫn tới sự đa dạng của ngôn ngữ báo chí. Mặt khác, khái niệm ngôn ngữ e 11 báo chí được xác lập chủ yếu trong sự khu biệt với khái niệm ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên. Trong tương quan so sánh đó, nếu đặc trưng của ngôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ, thì đặc trưng của ngôn ngữ báo chí là tính chính xác, hàm súc khách quan và hiệu quả truyền thông tối ưu” [19;98]. NNBC ở đây đƣợc hiểu với hai mặt.
Một mặt nhƣ là tổng thể các ngôn ngữ thể loại dùng chung cho các thể loại báo chí (tin tức, tƣờng thuật, phóng sự, phỏng vấn, xã luận,.) và trong mỗi thể loại đó lại có những quy định, những yêu cầu đặc trƣng, phù hợp với đặc điểm truyền thông của thể loại. Sự đa dạng của NNBC cũng xuất phát từ sự đa dạng thể loại này mà ra. Ở mặt nghĩa thứ hai, chúng ta thƣờng thấy NNBC đƣợc xác lập chủ yếu trong sự tƣơng quan khác biệt với ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ đời sống tự nhiên. Nếu nhƣ đặc trƣng của ngôn ngữ văn học là tính nghệ thuật và hiệu quả thẩm mỹ thì đặc trƣng của NNBC là tính chính xác, hàm súc, khách quan và hiệu quả truyền thông tối ƣu, tức là nhằm chuyển tải trọn vẹn và nhanh chóng thông tin tới ngƣời nhận.
Vậy NNBC là ngôn ngữ đƣợc ngƣời viết lựa chọn để thể hiện nội dung bài báo; ngôn ngữ đó phải đảm bảo chức năng thông tin, chức năng phản ánh. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí Xuất phát từ những yêu cầu và đặc điểm của báo chí mà đặc điểm của NNBC đƣợc hình thành. Tin tức truyền tải cần sự hấp dẫn nhƣng không phải do hƣ cấu tƣởng tƣợng của nhà báo mà báo chí luôn gắn với tính thời sự, tính trung thực và tính hấp dẫn. Theo tác giả Nguyễn Đức Dân trong cuốn: “Ngôn ngữ báo chí - những vấn đề cơ bản” thì NNBC có những đặc điểm sau: - NNBC phải đảm bảo tính chính xác, hấp dẫn: tính chính xác và hấp dẫn tạo nên uy tín cho tờ báo.
Sự cạnh thông tin đến độc giả của báo chí càng ngày càng gay gắt, vì thế tính chính xác, hấp dẫn là cần thiết. Nội dung thông e 12 tin phong phú, đa dạng nhƣng độc giả lại không có nhiều thời gian và cũng không muốn mất nhiều thời gian chỉ để nắm bắt lấy một tin tức nào đó. Vì thế tính hấp dẫn của NNBC phải đi đôi với sự ngắn gọn để có thể lôi cuốn, thu hút đƣợc độc giả cũng nhƣ thực hiện mục đích tác động của mình. - NNBC là ngôn ngữ sự kiện: ngôn ngữ sự kiện là ngôn ngữ bám sát sự kiện có thật và nguyên dạng để phản ánh.
Đây là đặc điểm loại hình quan trọng nhất của NNBC, vì thật ra tin tức trong báo chí chính là sự kiện diễn ra hằng ngày đƣợc nói đến. Từ đó, đòi hỏi nhà báo không đƣợc bịa ra hay tƣởng tƣợng sự thật và phải để sự thật nguyên vẹn chứ không đƣợc thêm bớt tô vẽ. Hơn nữa, sự kiện xảy ra trong đời sống hằng ngày vô cùng phong phú và luôn ở thế vận động, độc giả có nhu cầu nắm bắt sự kiện một cách nhanh nhất, chính xác nhất và càng biết đƣợc nhiều sự kiện càng tốt. Nhờ ngôn ngữ sự kiện mà báo chí đạt đƣợc yêu cầu “mới và cụ thể”, yêu cầu “khách quan” từ đó giúp nhà báo tránh sự lặp lại, tránh việc khuôn sáo và tạo động lực tìm cách diễn đạt sáng tạo.
- NNBC là ngôn ngữ viết trực tiếp: nó không phải là thứ ngôn ngữ miêu tả trạng thái, cảm xúc, thứ ngôn ngữ về cái tĩnh tại, đƣa cái tôi tác giả vào bài viết. Cho nên so với ngôn ngữ thƣờng và ngôn ngữ các phong cách thì NNBC sử dụng nhiều động từ, ít tính từ và câu văn cũng ngắn gọn hơn. Đặc điểm NNBC đƣợc hình thành trên cơ sở những yêu cầu và đặc điểm của báo chí. Ngôn ngữ báo chí càng ngắn gọn càng súc tích thì càng hấp dẫn độc giả.
Phong cách ngôn ngữ báo chí So với một số phong cách chức năng (PCCN) khác của tiếng Việt, thì phong cách ngôn ngữ báo chí (PCNNBC) đƣợc nhận diện nhƣ là một phong cách độc lập khá muộn, với nhiều quan niệm khác nhau. Dựa vào những tài liệu mà chúng tôi có đƣợc, từ năm 1980 trở về trƣớc e 13 dƣờng nhƣ PCNNBC không đƣợc nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về PCCN tiếng Việt. Đến năm 1982, Nguyễn Thái Hoà nói đến PCNNBC với tên gọi phong cách báo chí - công luận. Năm 1983, Cù Đình Tú xếp PCNNBC vào phong cách ngôn ngữ chính luận, và theo tác giả “các tin tức đưa trên báo chí, dưới các hình thức lược thuật, điều tra, phóng sự…ít nhiều có tính bình giá” [35;151].
Năm 1993, công trình Phong cách học tiếng Việt do Đinh Trọng Lạc chủ biên, các tác giả chia PCCN của hoạt động lời nói trong tiếng Việt thành: phong cách hành chính - công vụ, phong cách khoa học, phong cách báo chí - công luận, phong cách chính luận, và phong cách sinh hoạt hàng ngày. Nhƣ vậy, kể từ năm 1982, với sự ra đời của cuốn Phong cách học tiếng Việt của Nguyễn Thái Hoà, PCNNBC đƣợc nhìn nhận nhƣ là một loại PCCN độc lập và tồn tại song hành với các PCCN khác trong tiếng Việt. Theo Nguyễn Thái Hoà, “Phong cách báo chí - công luận là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp văn bản trong đó thể hiện vai người tham gia giao tiếp trong lĩnh vực báo chí – công luận. Nói cụ thể hơn đó là vai của nhà báo, người đưa tin, người cổ động, người quảng cáo, bạn đọc (phát biểu)… tất cả những ai tham gia vào hoạt động thông tin của xã hội về tất cả các vấn đề thời sự” [16;98].
Tác giả cho rằng, ngôn ngữ trong phong cách báo chí - công luận sử dụng cả dạng nói và viết. Dạng nói đƣợc thể hiện ở bản tin hằng ngày, những mục thông tin quảng cáo trên đài phát thành, đài truyền hình…, dạng viết thể hiện ở những mẩu tin, bài viết và tờ tin… trên báo.