phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục; phần nội dung của luận án gồm 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết Chƣơng 2: Tƣơng tác của thể phát trong diễn ngôn báo điện tử Chƣơng 3: Tƣơng tác của thể nhận trong diễn ngôn báo điện tử 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT Dẫn nhập Chương này tổng quan lại các công trình có liên quan tới đề tài nghiên cứu, hệ thống những tiền đề lí thuyết làm cơ sở cho việc triển khai đề tài. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm tổng quan các công trình nghiên cứu về diễn ngôn (diễn ngôn, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn báo điện tử) và các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử. Các nghiên cứu về diễn ngôn, diễn ngôn báo chí, diễn ngôn báo điện tử 1. Các nghiên cứu về diễn ngôn Tên gọi “Phân tích diễn ngôn” đã có từ năm 1952 với Z.
Ông đã đề xuất khái niệm “diễn ngôn - discourse” là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu. Sau đó, các nhà nghiên cứu J. Coulthard (1977) đã sử dụng phổ biến thuật ngữ “diễn ngôn”. De Beaugrande đã ấn định sự kết thúc của giai đoạn ngôn ngữ học văn bản để chuyển sang giai đoạn tiếp theo - giai đoạn phân tích diễn ngôn.
Từ đây, các công trình của M. Yule (1983); nhà dụng học S.Nunan (1993) đã nghiên cứu chuyên sâu về diễn ngôn. Nổi bật là công trình Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis) của G. Trong công trình này, các tác giả đã chỉ ra phương thức để giải mã diễn ngôn gắn với ngữ cảnh cụ thể và “phép luận suy” để tìm ra cái được nói đến trong diễn ngôn.
Theo Schiffrin (1994), kể từ khi phân tích diễn ngôn trở thành một lĩnh vực được nhiều người quan tâm đã có nhiều đường hướng phân tích diễn ngôn ra đời. Thứ nhất, đường hướng dụng học với hai nhánh. Một là, dựa trên lí thuyết hành động nói (speech acts), Austin và Searle cho rằng bản chất của các phát ngôn ngôn ngữ là thực hiện một hành động nói. Hai là, dựa trên sự phân biệt các loại ý nghĩa khác nhau của Grice, ông đã lập luận rằng nguyên tắc cộng tác là căn cứ cho việc suy ra ý định phát ngôn của người nói.
7 Một đường hướng khác bắt nguồn từ các lĩnh vực khác nhau như nhân chủng học, xã hội học và ngôn ngữ học gọi là đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác (interactional sociolinguistics). Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis- CDA) ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX. Đường hướng này quan tâm đến vấn đề quyền thế và hệ tư tưởng được thể hiện trong diễn ngôn. Ở Việt Nam, sự quan tâm tới phân tích diễn ngôn bắt đầu từ đầu thập kỷ 80.
Các tác giả như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985), Trần Ngọc Thêm (1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Nguyễn Hòa… đã nghiên cứu những vấn đề của phân tích diễn ngôn. Nguyễn Hòa (Phân tích diễn ngôn phê phán: Lí luận và phƣơng pháp) [49] coi diễn ngôn như một quá trình giao tiếp tương tác. Còn trong Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản [8]; Diệp Quang Ban đã hệ thống về văn bản, phân biệt văn bản và diễn ngôn trong đó nổi bật là quan điểm diễn ngôn là một quá trình, thuộc về mặt nghĩa, gắn với ngữ cảnh sử dụng. Đỗ Hữu Châu trong Đại cƣơng Ngôn ngữ học tập 2 (Ngữ dụng học) [12] có đề cập đến diễn ngôn như một khái niệm nền tảng của ngữ dụng học và phân biệt nó với khái niệm câu, phát ngôn.
Tác giả cũng đã chỉ ra các thành tố nội dung của diễn ngôn và sử dụng thuật ngữ này một cách thống nhất trong công trình của mình. Các công trình nghiên cứu về diễn ngôn nổi bật trên đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn vẹn về diễn ngôn. Các nghiên cứu về diễn ngôn báo chí và báo điện tử Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu về vấn đề báo chí và ngôn ngữ báo chí nói chung. Có thể kể tên một số công trình nổi bật ở Việt Nam như: Ngôn ngữ báo chí - Những vấn đề cơ bản (Nguyễn Đức Dân, 2007) [22], Báo chí - Những vấn đề lí luận và thực tiễn (Khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2005) [61], Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí (Hoàng Anh, 2003) [1], Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng (Hoàng Anh, 2008) [2], Ngôn ngữ báo chí (Vũ Quang Hào, 2002) [36]… Các 8 công trình này, về cơ bản đã cung cấp một hệ thống lí luận đầy đủ về báo chí và phân tích diễn ngôn báo chí ở các mặt: cấu trúc một diễn ngôn tin, các thành phần kết cấu, các thể loại… Các công trình mà chúng tôi tiếp cận được có các hướng nghiên cứu chính như: - Các thành phần kết cấu của diễn ngôn báo chí: những phần hay được nghiên cứu là tiêu đề (title) và sapô (sapo).
- Các thể loại của diễn ngôn báo chí: tin, phóng sự, thư tín thương mại, quảng cáo, nghị luận, chính trị xã hội… - Ngôn ngữ, phong cách báo chí thể hiện qua từ ngữ, câu, đoạn văn… Trong đó, những công trình nghiên cứu về báo điện tử (E-newspaper, online newspaper: báo điện tử, báo mạng, báo mạng điện tử) đã có những thành tựu bước đầu. Trên thế giới phải kể đến cuốn Writing for web (Viết bài cho web) (1999) của tác giả Kilian Crawford [dt 2; 61]. Đây gần như là tư liệu đầu tiên đề cập đến việc sử dụng ngôn ngữ trong các bài viết được đăng tải trên báo điện tử. Tác giả chỉ dẫn việc dùng từ, đặt câu, trình bày đoạn văn (như dùng dạng câu chủ động thay cho bị động, đặt câu đơn giản, đoạn văn không nên quá 70 chữ, dài nhất là gồm 4 dòng, các đoạn cách nhau một dòng)… Năm 2002, cuốn Journalism Online (Báo chí trực tuyến) của Mike Ward [dt 2; 61] chỉ ra những điểm nổi bật mà các nhà báo cần quan tâm khi sử dụng ngôn ngữ trong loại hình báo chí này (như cần ngắn gọn, súc tích, dung lượng chỉ bằng 50% so với báo in, đi thẳng vấn đề, mỗi câu chỉ mang một hoặc một thông tin nhất định, dùng từ dễ hiểu và gần gũi)… Các tác giả đã nghiên cứu khá chi tiết về cách viết báo mạng điện tử.
Tuy nhiên, đây là những nghiên cứu mang tính tổng thể về việc viết như thế nào, sử dụng ngôn từ như thế nào để phù hợp với việc thông tin trên báo mạng điện tử nói chung chứ không đi sâu vào một vấn đề cụ thể nào. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về báo mạng điện tử thiên về phân tích các kĩ năng cơ bản để viết báo. Các công trình của Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản [28]; Vũ Kim Hải, Đinh Thuận (biên soạn) (2006), Các thủ thuật làm báo điện tử: Thiết kế báo điện tử [35]… tập trung 9 đi vào hướng dẫn cách đặt tít, viết sapô, dung lượng câu… Trên website Vietnamjournalism.com [120], tác giả Lê Quốc Minh có một số bài viết về vấn đề sử dụng ngôn ngữ trên báo mạng điện tử như Giật tít trên báo điện tử, Nguyên tắc viết bài cho báo điện tử, Đặt tít ngắn, Thủ thuật viết bài cho website… loạt bài thiên về kĩ năng nghề nghiệp chung cho báo điện tử trên cơ sở kinh nghiệm. Tại các cơ sở đào tạo nghề nghiệp chuyên về báo chí và báo điện tử; hệ thống các khóa luận tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ xuất hiện tương đối nhiều.
Các vấn đề chủ yếu về báo điện tử đã được khai thác ở khá nhiều mảng khác nhau như: thông tin trên báo mạng, tiêu đề, lời dẫn, giao diện, diễn đàn, phỏng vấn, ảnh, độc giả… Về tổng thể, các công trình đã chỉ ra một số đặc điểm nổi bật của báo điện tử như: thông tin trên báo điện tử bao gồm thông tin khai thác lại và thông tin tự khai thác, quá trình xử lí thông tin có thể là: lựa chọn nguồn để đưa thông tin lên mạng, làm giàu thông tin bằng các thông tin liên quan…; tiêu đề, lời dẫn trên báo mạng có đặc điểm ngắn gọn, hấp dẫn trực tiếp người đọc; giao diện, ảnh, đồ họa trên báo mạng cần bắt mắt; độc giả của báo mạng rất năng động với những phản hồi… Những vấn đề này cung cấp kiến thức nền tảng về báo điện tử, tạo điều kiện cho chúng tôi tìm hiểu những đặc điểm có tính chất đặc trưng của tính tương tác. Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử Các nghiên cứu về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử (The interaction of E-newspaper discourse) đã bước đầu được đề cập đến ở các cấp độ khác nhau. Về cơ bản, các công trình đã đề cập tới vấn đề các hình thức tương tác và vấn đề độc giả tương tác với tòa soạn và nhà báo. Nghiên cứu về sự tƣơng tác của độc giả với tòa soạn và nhà báo Đây là những nghiên cứu phổ biến và nổi bật về tính tương tác của diễn ngôn báo điện tử.
Hầu hết các tác giả cho rằng tính tương tác của báo điện tử chính là sự tương tác của độc giả với toà soạn và nhà báo. Một số công trình đã bước đầu đề cập đến vấn đề này song chưa có những phân tích đi sâu cụ thể. Trong Báo chí - những vấn đề lí luận và thực tiễn [61], các tác giả khái quát và cho ví dụ về tính tương tác cao của báo điện tử qua vai trò của độc 10 giả phản hồi lại thông tin. “Một tin tức gửi đi nhanh chóng nhận ngay phản hồi của rất nhiều độc giả, nhận xét về nội dung thông tin, chia sẻ tình cảm với ngƣời trong cuộc thậm chí phản ứng ngay với tờ báo về cách đƣa tin (Ví dụ việc đƣa tin về vụ sóng thần hồi cuối năm 2004 rất đƣợc quan tâm nhƣng không ít ngƣời phàn nàn về việc đăng tải các hình ảnh quá thƣơng tâm).
Đài phát thanh và truyền hình có một số mục giao lƣu hay talkshow cho phép ngƣời xem, ngƣời nghe gọi điện trực tiếp, nhƣng chắc chắn không “bì” kịp với kiểu trao đổi qua Internet” [61; 255].