Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu khoa học của tác giả Vũ Thị Hồng Tiệp mang tên "Tính tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện tử phổ biến hiện nay", thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (hướng nghiên cứu Phân tích diễn ngôn và Ngôn ngữ học ứng dụng). Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo hướng kết hợp giữa miêu tả định tính và miêu tả định lượng, làm rõ phương thức hoạt động của ngôn ngữ báo chí trong môi trường truyền thông số.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Báo chí trong xã hội hiện đại được xác định với vai trò quyền lực thứ tư sau ba nhánh quyền lực Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp, thể hiện cụ thể ở khả năng tạo lập và định hướng dư luận xã hội. Sự phát triển của mạng Internet trong bối cảnh toàn cầu hóa đã làm thay đổi quy trình truyền thông báo chí, chuyển dịch từ mô hình truyền thông một chiều truyền thống sang mô hình giao tiếp hai chiều và đa chiều. Trong số các loại hình báo chí, báo điện tử là phương tiện thể hiện tính tương tác nổi bật nhất thông qua hệ thống phản hồi hiển thị công khai trên giao diện, thiết lập mối quan hệ mở và thế đối thoại trực tiếp giữa tác giả, tòa soạn và độc giả.

Ở bình diện lý luận ngôn ngữ học, việc chuyển đổi đối tượng nghiên cứu từ câu sang phát ngôn, từ văn bản sang diễn ngôn đánh dấu bước chuyển sang hệ giao tiếp, xem xét ngôn ngữ trong mối quan hệ với các yếu tố văn hóa và thực tiễn xã hội. Nghiên cứu tính tương tác của diễn ngôn báo chí là khảo sát hoạt động của ngôn ngữ trong một môi trường giao tiếp đặc thù: lĩnh vực báo chí - công luận. Tác giả xác định đây là việc làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ trong hệ thống và ngôn ngữ ở dạng hành chức trong phong cách chức năng báo chí. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở việc miêu tả kỹ năng làm báo, thao tác biên tập hoặc thống kê các hình thức tương tác bề mặt mang tính kỹ thuật đa phương tiện, chưa đi sâu phân tích bản chất tương tác ở bình diện diễn ngôn bằng phương tiện ngôn ngữ viết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu bao trùm của luận án là chỉ ra tính tương tác của diễn ngôn báo chí thông qua các đặc điểm về nội dung và hình thức của diễn ngôn báo điện tử; từ đó chỉ ra bản chất tương tác của diễn ngôn báo chí như một thuộc tính bao trùm chi phối mọi đặc trưng của diễn ngôn báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành bốn nội dung cụ thể:

  1. Xây dựng cơ sở lí thuyết về tương tác của diễn ngôn, tương tác của diễn ngôn báo chí.
  2. Khảo sát hệ thống các bài báo điện tử ở các báo khác nhau để thấy rõ các đặc điểm tương tác.
  3. Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể phát (nhà báo, tòa soạn báo).
  4. Chỉ ra các đặc điểm, các yếu tố thể hiện tính tương tác của thể nhận (độc giả).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tính tương tác của diễn ngôn báo chí thông qua khảo sát các diễn ngôn của báo điện tử. Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở yếu tố văn bản viết (text), không khảo sát các yếu tố đa phương tiện như âm thanh, hình ảnh và video clip; loại trừ tương tác dạng lời nói trực tiếp.
  • Hai phạm vi diễn ngôn được xem xét:
    1. Diễn ngôn của nhà báo (thể phát, đại diện cho tòa soạn): Gồm diễn ngôn cơ sở (chứa nguồn tin gốc, cung cấp thông tin đầu tiên) và các diễn ngôn phái sinh trong cùng một tờ báo hoặc giữa các tờ báo khác nhau (liên quan về mặt chủ đề, đối tượng được nói đến với diễn ngôn cơ sở).
    2. Diễn ngôn phản hồi của độc giả (thể nhận): Các phát ngôn xuất hiện sau khi độc giả tiếp nhận thông tin từ diễn ngôn của thể phát.
  • Không gian khảo sát: Hai báo điện tử tiếng Việt gồm Dân trí (dantri.com) và VietNamNet (vietnamnet.vn). Căn cứ lựa chọn dựa trên số liệu của trang thống kê lưu lượng truy cập Alexa (Dân trí có lượng người đọc và bình luận phản hồi lớn; VietNamNet là tờ báo điện tử đầu tiên của Việt Nam).
  • Thời gian và ngữ liệu: Khảo sát ngữ liệu chính gồm 185 bài báo mạng thuộc chuyên mục Giáo dục xuất bản trong năm 2015 của hai báo trên. Hệ thống bình luận phản hồi được thu thập từ thời điểm bài báo xuất bản đến hết ngày 31/12/2015. Ngoài ra, tác giả có đề cập đến một số bài báo xuất bản thời gian gần thời điểm hoàn thành để phục vụ phân tích các trường hợp điển hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại

Văn bản luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung chính:

  1. Nghiên cứu về diễn ngôn và phân tích diễn ngôn:

    • Thuật ngữ "Phân tích diễn ngôn" xuất hiện từ năm 1952 với công trình của Z. Harris, đề xuất khái niệm diễn ngôn (discourse) là văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu.
    • Các giai đoạn nghiên cứu tiếp theo có sự tham gia của J. Coulthard (1977), R. De Beaugrande (đánh dấu bước chuyển từ ngữ pháp văn bản sang phân tích diễn ngôn), M. Stubbs (1983), D. Nunan (1993). Đáng chú ý là công trình "Discourse Analysis" của G. Brown và G. Yule (1983) xác định phương thức giải mã diễn ngôn gắn với ngữ cảnh và phép luận suy.
    • Về các đường hướng phân tích, D. Schiffrin (1994) tổng kết: đường hướng dụng học dựa trên lí thuyết hành động nói của J. Austin (1962), J. Searle (1969) và nguyên tắc cộng tác của H.P. Grice; đường hướng ngôn ngữ học xã hội tương tác; đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) của N. Fairclough, T.A. van Dijk, R. Wodak, M. Foucault tập trung vào quan hệ quyền lực và hệ tư tưởng.
    • Tại Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn bắt đầu từ đầu thập niên 1980 với các công trình của Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu (1985 và "Đại cương Ngôn ngữ học tập 2 - Ngữ dụng học"), Trần Ngọc Thêm (1985), Nguyễn Đức Dân, Cao Xuân Hạo (1991), Diệp Quang Ban (1998, "Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản"), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Nguyễn Hòa ("Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phương pháp", "Phân tích diễn ngôn phê phán: Lí luận và phương pháp").
  2. Nghiên cứu về ngôn ngữ báo chí và báo điện tử:

    • Tại Việt Nam: Các công trình cơ bản gồm "Ngôn ngữ báo chí - Những vấn đề cơ bản" (Nguyễn Đức Dân, 2007), "Báo chí - Những vấn đề lí luận và thực tiễn" (Khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, 2005), "Một số vấn đề về sử dụng ngôn từ trên báo chí" (Hoàng Anh, 2003), "Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng" (Hoàng Anh, 2008), "Ngôn ngữ báo chí" (Vũ Quang Hào, 2002), "Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản" (Nguyễn Thị Trường Giang, 2010), "Các thủ thuật làm báo điện tử: Thiết kế báo điện tử" (Vũ Kim Hải, Đinh Thuận biên soạn, 2006), các bài viết hướng dẫn nghiệp vụ của Lê Quốc Minh trên Vietnamjournalism.com.
    • Quốc tế: Công trình "Writing for web" (1999) của Kilian Crawford chỉ dẫn kỹ thuật viết câu chủ động, đoạn văn ngắn dưới 70 chữ; "Journalism Online" (2002) của Mike Ward chỉ ra yêu cầu viết ngắn gọn, dung lượng bằng 50% báo in; nghiên cứu "Những đặc điểm mang tính tương tác của báo điện tử" của Keith Kenney, Alexander Gorelik và Sam Mwangi đề xuất các tiêu chí đo lường tương tác gồm công cụ tìm kiếm, siêu liên kết, phản hồi và các đặc điểm đa phương tiện.
  3. Nghiên cứu về tính tương tác của báo điện tử:

    • Hoàng Anh (2008) chỉ ra tính tương tác là đặc tính của ngôn ngữ báo mạng thông qua kết cấu mở với ba dạng: lấy ý kiến độc giả, giao lưu hỏi đáp và diễn đàn thảo luận.
    • Tài liệu của Khoa Báo chí (2005) nêu bật vai trò phản hồi của độc giả đối với các sự kiện nóng (như đưa tin về thảm họa sóng thần năm 2004).
    • Hệ thống khóa luận, luận văn tại các cơ sở đào tạo bước đầu phân loại các hình thức tương tác: tương tác người đọc - máy (công cụ tìm kiếm, vote, RSS), tương tác độc giả - tòa soạn (hộp thư, giao lưu trực tuyến), tương tác độc giả - độc giả, tương tác độc giả - phóng viên.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu nhìn nhận tính tương tác ở góc độ kỹ thuật làm báo, thống kê các tiện ích bề mặt của website hoặc xem phản hồi của độc giả đơn thuần là sự hồi đáp thông tin kỹ thuật. Những khía cạnh về nội dung tương tác, bản chất mối quan hệ giữa các chủ thể, cơ chế tương tác bằng văn bản ngôn từ và sự tác động của quyền lực, hệ tư tưởng, ngữ cảnh và hành động ngôn từ chưa được nghiên cứu hệ thống. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách đặt báo điện tử vào hệ thống lí luận phân tích diễn ngôn, khảo sát toàn diện tính tương tác ở cả hai phía: thể phát (nhà báo, tòa soạn) và thể nhận (độc giả) hoàn toàn trên phương diện ngôn ngữ viết.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án xây dựng cơ sở nghiên cứu dựa trên sự giao thoa của ba khối lý thuyết: lý thuyết giao tiếp truyền thông, ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn phê phán.

  1. Khái niệm tương tác: Theo Từ điển tiếng Việt và quan điểm của Đỗ Hữu Châu, tương tác là quá trình tác động qua lại làm biến đổi trạng thái của các sự vật tham gia (nếu A tác động làm B chuyển từ trạng thái b sang d, đồng thời B tác động làm A chuyển từ a sang c thì tương tác đạt hiệu quả). Luận án vận dụng mệnh đề "diễn ngôn như một sự tương tác xã hội" (discourse as social interaction) của T.A. van Dijk. Tương tác được khảo sát là tương tác bằng lời viết giữa các nhân vật giao tiếp trong môi trường báo chí.

  2. Mô hình hoạt động giao tiếp:

    • Mô hình 6 nhân tố giao tiếp của R. Jakobson: Người phát, Thông điệp, Người nhận, Ngữ cảnh, Tiếp xúc, Mã; vận hành qua hai quá trình mã hóa (người phát) và giải mã (người nhận).
    • Mô hình truyền thông của Claude Shannon gồm: Nguồn phát (S) $\rightarrow$ Thông điệp (M) $\rightarrow$ Kênh (C) $\rightarrow$ Người nhận (R) $\rightarrow$ Hiệu quả (E), chịu sự tác động của Nhiễu (N) và có sự tiếp nhận Phản hồi (F).
    • Mô hình tương tác hội thoại: Gồm hoạt động trao lời (Sp1 tạo diễn ngôn hướng đến Sp2) và đáp lời (Sp2 chuyển vai thành người phát để hồi đáp). Trong báo chí, tác giả xác định một cặp trao - đáp lớn bao trùm: nhà báo thực hiện một lời trao (bài báo) và nhận lại nhiều lời đáp (các bình luận của độc giả).
  3. Bốn yếu tố nhận diện tương tác diễn ngôn theo T.A. van Dijk:

    • Hệ tư tưởng (Ideology): Yếu tố vĩ mô định hình cách các nhóm xã hội tham gia diễn ngôn, truyền tải qua các cấp độ ngôn từ và ngữ cảnh.
    • Quyền lực (Power): Sự kiểm soát hành vi thông qua việc kiểm soát lí trí (kiến thức, thái độ) của người khác bằng văn bản; quyền lực vừa kiểm soát quá trình tạo lập diễn ngôn vừa là hệ quả của diễn ngôn.
    • Ngữ cảnh (Context): Bối cảnh xã hội, văn hóa, không gian, thời gian và đặc biệt là nhân vật giao tiếp; chi phối việc tạo lập và giải mã hàm ý.
    • Hành động (Action): Diễn ngôn là một dạng hành động xã hội bằng ngôn từ, chuyên chở các đích giao tiếp nhằm tác động làm biến đổi người tiếp nhận.
  4. Đường hướng ngữ dụng học và cấu trúc báo chí:

    • Lí thuyết hành động nói của Austin và Searle: Xem xét hành động ở lời và hành động mượn lời; phân định phương thức tương tác (PTTT) trực tiếp (ý nghĩa tường minh, ngôn ngữ hiển ngôn) và PTTT gián tiếp (ý nghĩa hàm ẩn, vi phạm nguyên tắc cộng tác của Grice).
    • Phân tích diễn ngôn phê phán theo Fairclough với ba chiều đo: miêu tả (định dạng văn bản), tìm hiểu (sản sinh và thực hành diễn ngôn), giải thích (tác động văn hóa - xã hội bề sâu).
    • Cấu trúc văn bản báo chí: Cấu trúc ba phần (mở đầu gồm tiêu đề/sapô, nội dung, kết thúc), các mô hình tổ chức thông tin (hình chữ nhật, kim tự tháp xuôi, kim tự tháp ngược) và công thức tin tức 5W1H (Who, What, When, Where, Why, How).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp miêu tả:
    • Miêu tả định lượng: Thống kê số lượng bài báo, số lượng phản hồi, số chủ đề, số tin bài liên quan; phân loại tần số xuất hiện của các kiểu tiêu đề, kiểu sapô, các thể loại và các nhóm hành động ngôn từ.
    • Miêu tả định tính: Phân tích ngữ cảnh, xác định chủ đề, môi trường truyền tin; nhận diện các yếu tố gián tiếp như thái độ, quan niệm, đích diễn ngôn hàm ẩn của nhà báo và độc giả.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Vận dụng đường hướng dụng học (phân tích hành động nói) và đường hướng phê phán (phân tích quan hệ quyền lực, hệ tư tưởng gắn với ngữ cảnh cụ thể).
  • Thủ pháp so sánh đối chiếu: So sánh các văn bản cùng chủ đề về tiêu điểm thông tin và độ đậm nhạt; đối chiếu thể loại văn bản; so sánh diễn ngôn giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại nguồn; so sánh giữa hai tờ báo Dân trí và VietNamNet.
Phương pháp / Thủ pháp Thao tác thực tế Mục đích áp dụng
Miêu tả định lượng Thống kê số bài báo, số phản hồi, tần số xuất hiện của các kiểu tiêu đề, sapô, hành động ngôn từ Đo lường mức độ xuất hiện của các phương tiện tương tác
Miêu tả định tính Phân tích ngữ cảnh, phân loại chủ đề, xác định đích giao tiếp hiển ngôn và hàm ẩn Nhận diện thái độ, mục đích và bản chất tương tác
Phân tích diễn ngôn Áp dụng lí thuyết hành động nói và 3 chiều đo của Fairclough Giải mã mối quan hệ giữa ngôn ngữ, quyền lực và ngữ cảnh
So sánh đối chiếu So sánh diễn ngôn cùng chủ đề, so sánh bài báo gốc với bài báo khai thác lại Làm rõ sự khác biệt về độ đậm nhạt thông tin và phản hồi

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận cho toàn bộ luận án:

  • Tổng lược lịch sử nghiên cứu diễn ngôn, ngôn ngữ báo chí, báo điện tử và tính tương tác của truyền thông trực tuyến trong và ngoài nước.
  • Xác lập cơ sở lý thuyết về hoạt động giao tiếp và giao tiếp báo chí; làm rõ bản chất diễn ngôn báo chí là một quy trình tương tác cách mặt, gián tiếp, nơi nhà báo mã hóa sự kiện thực tế qua lăng kính chủ quan và độc giả giải mã thông điệp dựa trên ngữ cảnh.
  • Phân tích tương tác trong hội thoại với hai mô hình trao lời (Sp1 $\rightarrow$ Sp2) và đáp lời (Sp2 $\rightarrow$ Sp1), xác định quá trình tương tác báo chí vận hành như một cuộc hội thoại mở với một lượt trao lời của tác giả và vô số lượt đáp lời từ bạn đọc.
  • Làm rõ bản chất tương tác diễn ngôn qua bốn yếu tố vĩ mô và vi mô: Hệ tư tưởng - Quyền lực - Ngữ cảnh - Hành động. Xác định nhân vật giao tiếp (thể phát Sp1 và thể nhận Sp2) là tiêu chí cốt lõi để nhận diện tương tác.
  • Thiết lập hệ thống 4 mối quan hệ tương tác trong báo chí:
    1. Tương tác giữa các thể phát (thể hiện qua quan hệ giữa các bài báo cùng chủ đề).
    2. Tương tác giữa thể phát và thể nhận (thể hiện qua diễn ngôn của nhà báo hướng đến độc giả).
    3. Tương tác giữa thể nhận với thể phát (thể hiện qua phản hồi của độc giả gửi đến tòa soạn/tác giả).
    4. Tương tác giữa các thể nhận (thể hiện qua các chuỗi bình luận tranh luận giữa các độc giả với nhau).
  • Xác định hai bình diện thể hiện tương tác: Nội dung (yếu tố chủ đề: duy trì chủ đề, triển khai chủ đề) và Hình thức (cấu trúc tiêu đề, sapô, thể loại báo chí, các phương tiện ngôn ngữ).

Chương 2: Tương tác của thể phát trong diễn ngôn báo điện tử

Chương này đi sâu khảo sát các biểu hiện tương tác từ phía người phát (nhà báo, tòa soạn) trên ngữ liệu 185 bài báo mạng chuyên mục Giáo dục:

  • Tương tác giữa các thể phát:
    • Tương tác chủ đề: Khảo sát các mô hình duy trì và phát triển chủ đề qua hệ thống đường siêu liên kết. Các bài báo phái sinh kết nối với bài báo cơ sở nhằm mở rộng, đào sâu hoặc bổ sung góc nhìn về một sự kiện giáo dục. Luận án thống kê lượng bài tương tác theo từng chủ đề cụ thể (Bảng 2.2 và Biểu đồ 2.1).
    • Tương tác thể loại: Khảo sát sự phối hợp giữa các thể loại báo chí (tin tức, bài phản ánh, phỏng vấn, bình luận) xoay quanh cùng một dòng sự kiện để duy trì luồng quan tâm của xã hội (Bảng 2.3, Mô hình 2.3 và 2.4).
  • Tương tác giữa thể phát và thể nhận:
    • Quyền lực tương tác của thể phát: Thể phát thể hiện quyền năng định hướng dư luận xã hội thông qua quyền lựa chọn sự kiện, kiểm soát dung lượng và cấu trúc thông tin, chuyển hóa các sự kiện bình thường thành vấn đề thời sự đáng quan tâm nhằm tác động vào lí trí và nhận thức của độc giả.
    • Các yếu tố cấu trúc thể hiện tương tác:
      • Tiêu đề (tít): Là đơn vị khởi xướng ngôn bản mang thông tin mới. Luận án phân loại và thống kê tần số xuất hiện của các kiểu tiêu đề (Bảng 2.5 và Biểu đồ 2.2), chỉ ra cách thức đặt tít kích thích sự tò mò của bạn đọc.
      • Sapô: Giữ vai trò dẫn nhập định hướng, tóm tắt cốt lõi bài viết mà không làm triệt tiêu nhu cầu đọc tiếp. Luận án thống kê tần số và tỉ lệ xuất hiện của các kiểu sapô (Bảng 2.6 và Biểu đồ 2.3).
      • Phương thức tương tác (PTTT) và hành động ngôn từ: Thể phát sử dụng PTTT trực tiếp (ý nghĩa tường minh) và PTTT gián tiếp (ý nghĩa hàm ẩn, sử dụng câu hỏi tu từ, vi phạm nguyên tắc cộng tác của Grice) để thiết lập thế đối thoại với công chúng (Bảng 2.7).

Chương 3: Tương tác của thể nhận trong diễn ngôn báo điện tử

Chương 3 chuyển trọng tâm sang khảo sát các diễn ngôn phản hồi của thể nhận (bạn đọc):

  • Hệ thống diễn ngôn phản hồi:
    • Đặc điểm: Diễn ngôn phản hồi có tính tức thì, phân tán, ngắn gọn, phản ánh trực tiếp cảm xúc, nhận thức và lập trường của bạn đọc đối với thông tin tiếp nhận.
    • Phân loại: Luận án phân định các loại diễn ngôn phản hồi dựa trên thái độ tiếp nhận (đồng thuận, phản đối, bổ sung thông tin, chất vấn hoặc hoài nghi). Khảo sát tổng số lượng các phản hồi thu thập được (Bảng 3.1).
  • Đối tượng tương tác của thể nhận:
    • Tương tác giữa thể nhận với thể phát: Độc giả hướng phát ngôn về phía bài báo, đánh giá tính chuẩn xác của tin tức, bày tỏ quan điểm đồng tình hoặc phê phán cách đưa tin của tòa soạn. Luận án thực hiện so sánh lượng phản hồi giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại nguồn từ báo khác (Bảng 3.2, 3.3, 3.4), chứng minh mức độ quan tâm của độc giả đối với nguồn tin ban đầu.
    • Tương tác giữa các thể nhận: Độc giả đối thoại, tranh luận, ủng hộ hoặc bác bỏ ý kiến của các độc giả khác dưới cùng một bài viết, hình thành các cuộc hội thoại phụ đa tầng.
  • Các yếu tố ngôn ngữ thể hiện sự tương tác của thể nhận:
    • Hành động ngôn từ: Khảo sát và phân loại các nhóm hành động ở lời của độc giả (nhận định, đánh giá, yêu cầu, cảm thán, khuyên can, đề xuất giải pháp) và phân tích hành động mượn lời khi phản hồi vượt ra ngoài mục đích ban đầu của bài báo (Bảng 3.5 và Bảng 3.6).
    • Một số phương tiện ngôn ngữ khác: Khảo sát việc sử dụng đại từ xưng hô, khẩu ngữ, thán từ, trợ từ tình thái, dấu câu biểu cảm (dấu chấm than, dấu hỏi chấm liên tiếp) và cấu trúc câu đặc thù trong văn bản phản hồi (Hình 3.4).
Danh mục bảng Nội dung thống kê trong luận án
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng các bài báo được khảo sát
Bảng 2.2 Thống kê lượng bài tương tác chủ đề
Bảng 2.3 Phân loại các thể loại
Bảng 2.5 Tần số xuất hiện của các kiểu tiêu đề
Bảng 2.6 Tần số xuất hiện của các kiểu sapô
Bảng 2.7 Phân loại các phương thức tương tác (PTTT) dựa vào hành động ngôn từ
Bảng 3.1 Số lượng các phản hồi
Bảng 3.2 Thống kê lượng bài lấy nguồn từ báo khác
Bảng 3.3 So sánh lượng phản hồi giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại (1)
Bảng 3.4 So sánh lượng phản hồi giữa bài báo gốc và bài báo lấy lại (2)
Bảng 3.5 Số lượng các nhóm hành động ở lời trong phản hồi
Bảng 3.6 Ví dụ về các nhóm hành động ở lời trong phản hồi

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần mở rộng biên độ nghiên cứu ngôn ngữ truyền thông hiện đại, bổ sung vào hệ thống lý luận ngôn ngữ truyền thông tại Việt Nam.
  2. Công trình tổng hợp và vận dụng hệ thống lý thuyết liên quan đến tương tác diễn ngôn, phân tích diễn ngôn phê phán và dụng học; từ đó góp phần làm rõ thêm lý thuyết về tính tương tác của diễn ngôn báo chí ở loại hình báo điện tử.
  3. Luận án xác lập khung phân tích tương tác dựa trên bốn mối quan hệ giao tiếp (phát - phát, phát - nhận, nhận - phát, nhận - nhận) và chứng minh tính tương tác là một thuộc tính bản chất, chi phối toàn diện cấu trúc nội dung và hình thức của diễn ngôn báo chí trực tuyến.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trực tiếp vào công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề phong cách học ngôn ngữ báo chí và phân tích diễn ngôn ứng dụng tại các trường đại học.
  2. Luận án cung cấp hệ thống dẫn liệu tham khảo phục vụ việc rèn luyện kỹ năng thực hành nghề báo (kỹ thuật đặt tiêu đề, viết sapô, triển khai chuỗi liên kết chủ đề và sử dụng ngôn ngữ nhằm tối ưu hóa hiệu quả tương tác với độc giả).
  3. Các kết luận khoa học của luận án cung cấp căn cứ hỗ trợ các tòa soạn điều chỉnh, định hướng sự giao lưu, tương tác báo chí theo hướng tích cực, nâng cao chất lượng diễn đàn thảo luận công khai trên báo điện tử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

Căn cứ vào phạm vi và đối tượng nghiên cứu được công bố trong văn bản, luận án có các giới hạn sau:

  • Luận án chỉ tập trung khảo sát yếu tố văn bản viết (text), chưa tiến hành nghiên cứu các phương tiện truyền thông đa phương thức khác như hình ảnh, âm thanh, video clip và các yếu tố đồ họa trực quan.
  • Tương tác được nghiên cứu giới hạn ở dạng tương tác cách mặt bằng lời viết, không bao gồm tương tác bằng lời nói hoặc các hình thức giao tiếp trực tiếp mặt đối mặt.
  • Khung ngữ liệu khảo sát giới hạn trong 185 bài báo thuộc chuyên mục Giáo dục của hai báo điện tử Dân trí và VietNamNet trong phạm vi thời gian năm 2015 cùng các phản hồi thu thập đến ngày 31/12/2015.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các chuyên mục báo chí khác (như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, thể thao) để kiểm chứng tính phổ quát của các mô hình tương tác.
  • Mở rộng khảo sát trên các tờ báo điện tử khác nhau nhằm so sánh phong cách tương tác giữa các cơ quan báo chí.
  • Phát triển nghiên cứu phân tích diễn ngôn đa phương thức (multimodal discourse analysis), kết hợp khảo sát văn bản viết với âm thanh, hình ảnh và video clip trong môi trường báo chí số.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Việt ngữ học: Luận án cung cấp mô hình ứng dụng lý thuyết dụng học (hành động nói, nguyên tắc cộng tác) và phân tích diễn ngôn phê phán (CDA) vào việc khảo sát một phong cách chức năng ngôn ngữ cụ thể; phần Chương 1 và khung phân loại hành động ngôn từ ở Chương 3 là tài liệu tham khảo có giá trị phương pháp luận.
  • Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo Báo chí - Truyền thông: Luận án là tài liệu giảng dạy bổ trợ cho các học phần Ngôn ngữ báo chí, Phong cách học văn bản báo chí và Báo mạng điện tử; đặc biệt là các phân tích thực nghiệm về cấu trúc tiêu đề, cấu trúc sapô và cách thức duy trì mạch thông tin đa chiều.
  • Đối với phóng viên, biên tập viên và cán bộ quản lý báo điện tử: Các kết quả khảo sát ở Chương 2 và Chương 3 hỗ trợ người làm báo nhận diện tác động của cấu trúc bài viết đến tâm lý tiếp nhận của công chúng; cung cấp căn cứ để xây dựng tiêu đề, sapô hấp dẫn và quản trị hiệu quả diễn đàn phản hồi của độc giả.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát ngữ liệu trên những cơ sở báo chí nào và với dung lượng bao nhiêu?

Luận án khảo sát trên hai báo điện tử là Dân trí (dantri.com) và VietNamNet (vietnamnet.vn). Ngữ liệu chính thức gồm 185 bài báo mạng thuộc chuyên mục Giáo dục được xuất bản trong năm 2015, kèm theo toàn bộ hệ thống bình luận phản hồi tính từ thời điểm xuất bản bài báo đến ngày 31/12/2015.

2. Luận án tiếp cận phân tích diễn ngôn theo những đường hướng lý thuyết cụ thể nào?

Tác giả tiếp cận theo hai đường hướng chính:

  • Đường hướng dụng học (pragmatics): Dựa vào lí thuyết hành động nói của Austin và Searle cùng nguyên tắc cộng tác của Grice để phân tích hành động ngôn từ trực tiếp, gián tiếp và ý nghĩa tường minh, hàm ẩn.
  • Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis - CDA): Dựa vào ba chiều đo của Fairclough (định dạng văn bản, thực hành diễn ngôn, phân tích văn hóa - xã hội) và quan điểm của van Dijk để giải mã mối quan hệ giữa quyền lực, hệ tư tưởng, ngữ cảnh và ngôn ngữ.

3. Hệ thống tương tác trong diễn ngôn báo chí được luận án xác định gồm những mối quan hệ nào?

Hệ thống tương tác được xác lập dựa trên nhân vật giao tiếp (thể phát Sp1 và thể nhận Sp2) gồm bốn mối quan hệ:

  • Mối quan hệ giữa các thể phát (tương tác giữa các bài báo với nhau qua chủ đề và thể loại).
  • Mối quan hệ giữa thể phát và thể nhận (tương tác của nhà báo/tòa soạn đối với độc giả qua bài viết).
  • Mối quan hệ giữa thể nhận với thể phát (phản hồi của độc giả đối với nhà báo và bài viết).
  • Mối quan hệ giữa các thể nhận (sự tranh luận, trao đổi qua lại giữa các độc giả dưới bài báo).

4. Luận án phân biệt phương thức tương tác trực tiếp và gián tiếp của thể phát dựa trên cơ sở nào?

Căn cứ phân biệt dựa trên hành động ngôn từ và tín hiệu ngôn ngữ:

  • Phương thức tương tác trực tiếp: Gắn với ý nghĩa tường minh (hiển ngôn), các nội dung tương tác được biểu hiện trực tiếp, rõ ràng qua câu chữ.
  • Phương thức tương tác gián tiếp: Gắn với ý nghĩa hàm ẩn, người viết sử dụng hành động ngôn từ gián tiếp hoặc cố tình vi phạm nguyên tắc cộng tác của Grice nhằm buộc người đọc phải dùng thao tác suy ý để giải mã thông điệp.

5. Yếu tố văn bản nào của báo điện tử được luận án tập trung khảo sát ở phía người phát?

Ở phía thể phát (Chương 2), luận án tập trung khảo sát các thành phần cấu trúc văn bản gồm: tiêu đề (tít bài), sapô (đoạn dẫn nhập), cách thức liên kết duy trì và triển khai chủ đề thông qua đường siêu liên kết, sự phối hợp thể loại báo chí và các hành động ngôn từ hiển ngôn hoặc hàm ẩn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Tính tương tác của diễn ngôn báo chí qua một số báo điện tử phổ biến hiện nay" của tác giả Vũ Thị Hồng Tiệp là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động của ngôn ngữ báo chí trực tuyến dưới góc độ phân tích diễn ngôn và dụng học. Bằng việc kết hợp phương pháp miêu tả định tính và định lượng trên 185 bài báo chuyên mục Giáo dục của hai báo Dân trí và VietNamNet cùng hệ thống phản hồi năm 2015, tác giả đã làm rõ bản chất tương tác thông qua bốn mối quan hệ giao tiếp giữa thể phát và thể nhận. Công trình đóng góp tích cực vào việc bổ sung lý luận về ngôn ngữ truyền thông, đồng thời mang lại giá trị thực tiễn cho hoạt động đào tạo ngôn ngữ học, báo chí và kỹ năng tác nghiệp báo điện tử.