CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn học nhìn từ lí thuyết giao tiếp và lí thuyết hội thoại Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu về giao tiếp và hội thoại đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm. Cụ thể hơn, nghiên cứu về giao tiếp, vai giao tiếp và mối quan hệ giữa các vai giao tiếp là những nội dung được nghiên cứu từ phương diện lí thuyết đến khảo sát cụ thể.
Có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu như sau: (i). Nghiên cứu về mức độ thể hiện vai quyền lực và vai thân hữu trong giao tiếp Theo Nguyễn Thị Hồng Chuyên [11], các tác giả trên thế giới quan tâm đến việc làm rõ sự khác biệt trong việc xác lập vai quyền lực và vai thân hữu của các đối tượng trong giao tiếp xuất phát từ mục đích, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Ngôn ngữ của các vai giao tiếp thường thể hiện mối quan hệ đối xứng và phi đối xứng. Các hành động ngôn ngữ trong giao tiếp của các đối tượng cũng góp phần thể hiện vai giao tiếp.
Woflson đã chứng minh được lời khen (hành động khen) thường được thực hiện giữa những vai giao tiếp cùng độ tuổi và địa vị. Trên phương diện ảnh hưởng của văn hóa đến vai giao tiếp, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra những tiêu chí quyết định sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia gián tiếp xác định vai giao tiếp của các đối tượng trong xã hội [dẫn theo 11, tr. Geert Hofstede đưa ra 5 tiêu chí nhằm chỉ ra sự khác biệt văn hóa giữa các quốc gia, trong đó tiêu chí về khoảng cách quyền lực gần xa trong các thứ bậc là tiêu chí quan trọng nhất [dẫn theo 11, tr. Lakoff trong công trình nghiên cứu của mình cũng đưa ra những cơ sở để xác lập ngôn ngữ của mỗi giới.
Theo đó, nữ giới thường có xu hướng sử dụng ngôn ngữ diễn đạt 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhẹ nhàng, trung tính, thậm chí nhún nhường; còn nam giới thường có xu hướng sử dụng ngôn ngữ diễn đạt mạnh mẽ, dứt khoát, ngắn gọn… (ii). Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp Xưng hô trong giao tiếp là cách chỉ thị ngôi nhân xưng, nhờ đó mà quy chiếu được các nhân vật tham gia giao tiếp. Xưng hô trở thành điều kiện quan trọng, tiên quyết của việc nhận diện và xác lập vai giao tiếp của đối tượng giao tiếp.Gilman đã đề nghị dùng hai chữ T và V (từ hai từ tu và vos trong tiếng Latin) làm hai kí hiệu chung cho đại từ chỉ sự thân hữu và đại từ chỉ sự quyền lực trong tất cả các ngôn ngữ. Khi xem xét trong xã hội phương Tây, T.
Holmes nhận thấy thái độ ứng xử, xưng hô của người trên quyền và người quen biết là ngang nhau. Tác giả cho rằng khi nhấn mạnh tới khoảng cách xã hội và tương tác quyền là hướng tới lịch sự âm tính, tức là chiến lược lịch sự tôn trọng. Lịch sự âm tính nhấn mạnh khoảng cách xã hội và nét khác biệt về quyền lực [dẫn theo 11, tr. Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp Kế thừa và phát triển lí thuyết hành động ngôn từ của J.
Searle đã đưa ra 12 quan điểm khác biệt, quy chiếu thành bốn tiêu chí và xác lập được năm nhóm hành động ngôn từ lớn như: xác tín, điều khiển, cam kết, bày tỏ, tuyên bố. Đối với từng nhóm hành động ngôn ngữ, tác giả đã nêu những đặc trưng của nhóm và quy định giữa người nói (Sp1) và người nghe (Sp2) thực hiện một việc nào đó trong tương lai. Searle, các tác giả như A. Bach… khi nghiên cứu về phân loại hành động ngôn ngữ đã gián tiếp xác lập cương vị - vị thế của chủ thể và đối tượng giao tiếp.
Hội thoại, khi trở thành đối tượng của Ngữ dụng học, đã được nhiều tác giả như C. Wilson… quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu. Bakhtin từng nhấn mạnh đối thoại chính là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người. Nghiên cứu về hội thoại, các tác giả tập trung vào nghiên cứu một số hướng sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các nhân tố chi phối một cuộc hội thoại Các tác giả đã chỉ ra có các nhân tố chủ yếu sau chi phối một cuộc thoại như: không gian, thời gian diễn ra cuộc thoại (thoại trường), người tham gia cuộc thoại (thoại nhân), mục tiêu của cuộc thoại (đích giao tiếp), hình thức cuộc thoại… (ii). Nguyên tắc hội thoại Để cuộc hội thoại thành công, các nhân vật giao tiếp bắt buộc phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Qua nghiên cứu thực tế, K. Orecchioni đã hệ thống các quy tắc thành ba nhóm sau: - Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời; - Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại/ điều hành nội dung hội thoại; - Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại Trong đó, nguyên tắc cộng tác hội thoại đã được Grice nêu ra năm 1967, được thể hiện qua bốn phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm về quan hệ và phương châm về cách thức.
Cấu trúc hội thoại Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời. Harvey Sark - người đặt nền móng đầu tiên cho trường phái này cho rằng, dưới các lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài các phát ngôn. Dù khác nhau về kiểu loại, phong cách nhưng trong các cuộc hội thoại, các lượt lời thường đi với nhau tạo thành từng cặp gần như tự động. Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại.
Trường phái này cho rằng hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi. So với trường phái phân tích hội thoại, trường phái phân tích diễn ngôn đã quan tâm tới các đơn vị trên và dưới lượt lời một cách toàn diện và sâu sắc hơn. Ở Việt Nam, kế thừa những kết quả nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giao tiếp, các nhà nghiên cứu cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này. Có thể điểm qua một số hướng nghiên cứu như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nghiên cứu về xưng hô của các vai giao tiếp Xưng hô trong tiếng Việt chịu áp lực mạnh mẽ của chuẩn mực xã hội. Chuẩn mực xã hội chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô của các cá nhân trong tương tác xã hội. Nguyễn Văn Khang vận dụng khái niệm “quyền thế” và “liên kết” để xem xét cách xưng gọi trong giao tiếp của người Việt. Vũ Tiến Dũng trong công trình Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính (qua một số hành động nói) đã đề cập đến vai giao tiếp và việc lựa chọn từ xưng hô: Xưng hô phù hợp với vai giao tiếp mà mỗi cá nhân đang có trong cuộc thoại chính là xưng hô theo tôn ti, thứ bậc.
Từ góc độ văn hóa so sánh cách xưng hô giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác, có thể kể đến các tác giả với các công trình như: Dương Thị Nụ (Từ chỉ quan hệ thân tộc trong tri nhận của người Anh và người Việt, 2004), Phạm Ngọc Hàm (Từ ngữ xưng hô trong tiếng Hán hiện đại (đối chiếu với tiếng Việt), 2008)… Từ góc độ văn hóa dân tộc Việt Nam, các tác giả đã có những công trình nghiên cứu về xưng hô như: Bùi Khánh Thế (Về hệ thống đại từ xưng hô trong tiếng Chăm, 1990), Phạm Ngọc Thưởng (Các cách xưng hô trong tiếng Nùng, 1998), Lê Thanh Kim (Từ xưng hô và cách xưng hô trong phương ngữ tiếng Việt, 2002). Xưng hô trong phạm vi giao tiếp gia đình và xã hội của người Việt cũng là những nội dung nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Có thể kể đến một số tác giả và những công trình như: Đào Thản (Ngôn ngữ giao tiếp trên lớp học của giáo viên và học sinh tiểu học hiện nay, 2003), Bùi Minh Yến (Ngôn ngữ xưng hô bạn bè trong nhà trường hiện nay, 2003), Mai Xuân Huy (Về hiện tượng xưng hô trong giao tiếp quảng cáo, 2004), Lương Thị Hiền (Tìm hiểu văn hóa quyền lực được đánh dấu bằng hành vi xưng hô trong giao tiếp gia đình người Việt, 2009), Phạm Thị Hà (Chiến lược giao tiếp xưng hô trực tuyến giữa người hâm mộ với nghệ sĩ (qua hành vi khen và hồi đáp khen), 2013), Lê Thị Kim Cúc (Đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong truyện 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ tích thần kì Việt Nam, 2015), Khuất Thị Lan (Xưng hô trong giao tiếp vợ chồng nông dân người Việt (trên cứ liệu một số tác phẩm văn học giai đoạn 1930 - 1945), 2015)… (ii) Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp Khi xem xét về giao tiếp và các vai giao tiếp, các nhà ngôn ngữ học xã hội cho rằng các vai giao tiếp chỉ thực sự được nhận ra thông qua những hình thức diễn đạt cụ thể. Hành động ngôn ngữ được coi là một trong những hình thức quan trọng để thiết lập mối tương quan giữa các nhân vật giao tiếp.
Một số nội dung nghiên cứu xoay quanh hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp có thể kể ra là: nghiên cứu về cấu trúc, ngữ nghĩa và mối quan hệ của các hành động ngôn ngữ trong việc thể hiện vai giao tiếp; nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các vai giao tiếp trong quan hệ gia đình và xã hội. Một số tác giả và công trình có thể kể đến là: Chu Thị Thanh Tâm (Hành vi mời và đoạn thoại mời, 2005), Nguyễn Thị Thanh Ngân (Hành vi giao và phân công trong tiếng Việt, 2011), Trần Kim Hằng (Văn hóa ứng xử của người Việt và người Anh: những cặp thoại phổ biến (khen và hồi đáp khen), 2011), Lương Thị Hiền (Tìm hiểu cấu trúc trao - đáp trong mối tương quan với nhân tố quyền lực ở phạm vi giao tiếp gia đình tiếng Việt, 2012)… Ở Việt Nam, khi nhắc tới lí thuyết hội thoại, có thể nhắc đến các tác giả lớn như: Nguyễn Đức Dân (Ngữ dụng học, tập 1, 1998), Cao Xuân Hạo (Sơ thảo ngữ pháp chức năng, 1999), Đỗ Thị Kim Liên (Ngữ nghĩa lời hội thoại, 1999), Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học, tập 2: Ngữ dụng học, 2001).