Đặt vấn đề Theo các báo cáo diễn biến rừng của nước ta giai đoạn trước giải phóng (năm 1945) thì từ độ che phủ rừng 43% (năm 1943) giảm liên tục xuống còn 22% (năm 1983). Nguyên nhân do sự mat rừng này một phan là do sự tàn phá nặng nề của chiến tranh để lại (bom, đạn, chất độc Dioxin.); do sự khai thác quá mức không có kế hoạch khai thác cụ thé hay kế hoạch phục hồi rừng; do sự chuyên đổi rừng và đất rừng thành đất sản xuất nông nghiệp; do sự canh tác du canh du cư của người đồng bào dân tộc thiểu số; ngoài ra thiên tai, cháy rừng cũng là tác nhân gây nên diện tích rừng tự nhiên ngày càng bi thu hẹp nặng nề (theo Open Development Vietnam, 2019. Topics: Forest and Forestry). Trong giai doan tiép theo, một loạt cai cách chính sách lâm nghiệp, cải cach quản lý đất đai được đổi mới như: Nghị quyết của Đảng về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là Khoán 10, năm 1998), các chương trình dự án trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc.
của nhà nước đã giúp diện tích rừng tăng thuần theo từng năm kèm theo đó là độ che phủ rừng. Đó là một tín hiệu tốt trong công cuộc bảo vệ thiên nhiên, môi trường của Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2008, diện tích rừng Việt Nam đã tăng đến 13,1 triệu km”, độ che phủ rùng tại thời điểm đó tăng hơn 15% so với độ che phủ rừng năm 1983 (22%). Đến năm 2021, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bồ hiện trạng rừng toàn quốc như sau: về diện tích đất có rừng bao gồm ca rừng trồng chưa khép tán là 14.201 ha (rừng tự nhiên chiếm 10.757 ha, rừng trồng chiếm 4.444 ha), điện tích đất có rừng đủ tiêu chuân dé tính tỷ lệ che phủ là 13.
Dựa theo Lambin và Meyfroidt (2010), cũng như thế giới thì sự gia tăng diện tích rừng ở Việt Nam trong giai đoạn này cũng một phần do những thay đổi, tác động tích cực bởi năng suất nông nghiệp tăng nhanh, xu hướng chuyền dịch sản xuất Nông nghiệp định canh định cư. Tuy có nhiều tác động tích cực từ các giải pháp chính sách, nhưng diện tích rừng không còn tăng đột biến như trước, kể từ năm 2015 đến nay, diện tích rừng toàn quốc không còn tăng trưởng nhiều (chủ yếu diện tích rừng trồng tăng gan 1 triệu ha/năm), về phần diện tích rừng tự nhiên tăng lên là do một số nghị định ban hành (theo Thông tư 44/2015/TT - BNNPTNT ngày 23 tháng 11 năm 2015 của Bộ Nông nghiệp va Phat triển nông thôn, quyết định cây Mắc ca là loài cây lâm nghiệp) từ đó diện tích rừng tự nhiên tăng lên (tại các khu vực loài cây Mac ca mọc tự nhiên) tuy vậy dé lam giống và đem gieo trồng phát triển thành rừng thì mat khá lâu từ 3 đến 15 năm dé trở thành vườn giống (theo Thông tư số 22/2021/TT — BNNPTNT, Quy định danh mục các loài cây trồng Lâm nghiệp chính, công nhận giống cây trồng Lâm nghiệp). Ban Quản lý rừng phòng hộ SêRêPốk quản ly hon 50.914 ha rừng phòng hộ, 29.051 ha rừng sản xuất. Rừng phòng hộ SêRêPốk trải dài trên sáu xã thuộc huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng ngoài ra có một phần diện tích rừng thuộc tỉnh Đắk Nông nên hệ sinh thái rừng nơi đây rất phong phú và đa dạng chủng loài thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh ở trạng thái IIB và IIIA.
Đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung phần lãnh thô rừng phòng hộ tại khu vực xã Rômen, là xã có diện tích lớn thứ hai trong các xã thuộc huyện Đam Rông.000 ha diện tích rừng đang sử dụng cho mô hình trồng cây ngắn ngày, cây công nghiệp lâu năm, rừng trồng, địa bàn quản lý rộng, địa hình chia cắt bởi nhiều con sông, suối, cơ sở hạ tầng còn thấp nên đi lại còn khó khăn, cùng với đó là thành phần dân cư phức tạp bởi nhiều dân tộc đồng bào cùng sinh sống, bởi vậy công tác quản lý bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn. Được biết vào năm 2022, tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk giáp ranh hai huyện Đam Rông và huyện Lạc Dương xảy ra một vụ phá rừng quy mô lớn đến gan 1.000 m? rừng bị tàn phá ở tiểu khu 72. Chúng tập trung khai thác chủ yếu ở các loài cây gỗ lớn với đường kính gốc từ 20 — 70 cm, thậm chí có vài cây đường kính gần 1 m cũng bị triệt hạ. Vụ việc như trên không chỉ mới xảy ra mà trước đó cũng xảy ra nhiều vụ chặt phá rừng tại địa bàn huyện, đa phan các vụ chặt phá chủ yêu dé mở rộng diện tích canh tác cây trồng phục vụ lợi ích cá nhân, ngoài ra chặt chọn lọc các loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao để đem bán vì phần lớn dân cư nơi đây là đồng bào dân tộc thiểu số, họ chưa ý thức được tầm quan trọng của rừng tự nhiên, tình hình môi trường trong nước và cả thế giới.
Bởi vậy, nghiên cứu đặc điểm, phân bố của các loài thực vật nơi đây cần được day mạnh, dé từ đó đưa ra các biện pháp bảo tồn, hỗ trợ công tác bảo vệ, phát triển diện tích rừng còn. Việc nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ cần được chú trọng vì nhờ các nghiên cứu trên, kĩ sư lâm nghiệp và các phòng ban thuộc BQL rừng có thé nam bắt thông tin co ban (vi tri, phân bố, khu vực tái sinh.) để từ đó đưa ra các giải pháp sử dụng, bảo tồn một cách hợp lý các nguồn tài nguyên, diện tích đất rừng còn lại tại khu vực, từ đó làm tiền đề để phát triển diện tích rừng trên cả nước. Bởi vì hiện nay, do sự thay đổi thất thường về khí hậu, nhiệt độ của Trái Đất đang dần tăng lên vì hiệu ứng nhà kính, việc bảo vệ diện tích rừng ở từng nước là vấn đề luôn được chú trọng, rừng chính là lá phối xanh của Trái Dat. Xuất phát từ các lý luận và thực tiễn, từ các kiến thức đã được học, trong khuôn khổ của khóa luận tốt nghiệp cuối khóa, được sự phân công của khoa Lâm nghiệp, ngành Quản lý Tài nguyên rừng, đưới sự hướng dẫn của Thầy Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Đặc điểm lâm học ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPấk, tỉnh Lâm Đông” được thực hiện.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định kết cấu loài cây gỗ, câu trúc quần thụ, thống kê thành phần loài ưu thế đối với quần xã thực vật ở rừng lá rộng thường xanh trạng thái trung bình tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk, tỉnh Lâm Đồng. Phân tích đa dạng loài cây gỗ đối với các quần xã thực vật trạng thái rừng trung bình tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk. Đề xuất một số biện pháp lâm sinh nhằm hỗ trợ công tác quản lý bảo vệ rừng, bảo tồn các loài thực vật thân g6 và các quần xã thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.
Đối tượng nghiên cứu Các loài cây gỗ lớn thuộc kiều rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trang thái trung bình tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk. Trạng thái rừng nghiên cứu: rừng trung bình (có trữ lượng cây đứng từ lớn hon 100 m/ha đến 200 m?/ha theo thông tư 33/2018/TT — BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành). Phạm vi nghiên cứu Đề tài “Đặc điểm lâm học ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trung bình tại khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk, tinh Lâm Đồng” tập trung nghiên cứu phần diện tích rừng phòng hộ thuộc xã Rômen, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Toàn bộ nghiên cứu trên khai thác về đặc điểm cấu trúc rừng, da dạng sinh học về loài cây gỗ lớn thuộc kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh trạng thái trung bình.
Từ các thông tin nghiên cứu trên đề ra các biện pháp quản lý rừng, bảo tồn đa dạng loài và phát trién khu vực rừng phòng hộ SêRêPốk trên địa bàn huyện Dam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Chương 2 TONG QUAN VE VAN DE NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan van đề nghiên cứu 2. Khái niệm về thảm thực vật Thảm thực vật (hay cũng là quần xã thực vật) đại diện cho sức khỏe của đời sống thực vật và lượng đất nền được cung cấp bởi động thực vật ở một phạm vi không gian bất kỳ, bao gồm cả toàn cầu.
Khái niệm thảm thực vật là tập thể cây cỏ lớn đem lại một hình dáng đặc biệt cho phong cảnh do sự tập hợp của những cây cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng sông ưu thế (theo Thái Văn Trừng, 1978); thảm thực vật đề cập đến đời sống thực vật, bao gồm thảm thực vật trong nông nghiệp và công nghiệp, sa mạc và bán sa mạc, cây bụi, thảo mộc, rừng và lớp phủ bề mặt tự nhiên (theo National Oceanic and Atmospheric Administration, 1970). Tinh hình nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới Schimper W. (1918) là nhà khoa học người Đức đầu tiên đưa ra hệ thong phân loại thảm thực vật đối với rừng nhiệt đới. Trong hệ thống này, thảm thực vật được phân chia thành quần hệ sinh thái khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi.
Trong đó, Schimper đã chia quần hệ thành 3 kiểu gồm: quần thụ, quần thảo, hoang mạc dựa vào dạng sông của các loài thực vật chiếm ưu thế trong quần thể. Tác giả đã xếp những quần hệ vùng núi ngang hàng với quần hệ khí hậu và quan hệ thé nhưỡng. Trong khi đó quần hệ vùng núi được cấu thành bởi khí hậu và thé nhưỡng. Điều đó cho thay tác giả chú trọng vào van dé lượng mưa hang năm của khu vực rừng nhiệt đới dé phân biệt các kiểu thảm thực vật khác nhau.
đã nghiên cứu các vấn đề về cơ sở sinh thái trong công cuộc quản lý rừng nhiệt đới. Trong bài nghiên cứu, ông đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý như thời tiết, lượng mưa, thé nhưỡng. tác động đến các biện pháp lâm sinh mà ông đang thực hiện. Các tác động phong phú và đa dạng tùy thuộc vào cấu trúc rừng (rừng đều tuổi, không đều tuổi) và phương thức xử lý cải thiện diện tích tại rừng nhiệt đới.
Raunkiaer (1934) đã đưa ra công thức xác định phổ dạng sống chuẩn cho hàng nghìn loài cây khác nhau. Theo đó, công thức phố dạng sống chuẩn được xác định theo tỷ lệ phan trăm giữa số lượng cá thé của từng dạng sống so với tông thé cá thé trong khu vực.