MỞ ĐẦU 1.1 Đặt van đề Rừng chiếm khoảng 1/3 diện tích đất nước ta, là nguồn tài nguyên vô cùng to lớn đối với cuộc sông con người, rừng đóng vai trò quan trọng trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cau, là lá phổi xanh của trái dat không ngừng cung cấp oxy va giữ lại lượng CO2 thải ra từ hoạt động của con người. Rừng còn tích nước cho các dòng sông, tạo độ phì nhiêu cho đất, giúp điều chỉnh tác động tiêu cực của các hiện tượng thời tiết như bão, hạn hán, xói mòn, lũ quét,. bảo vệ cuộc sống con người. Rừng là hệ sinh thái có giá trị đa đạng lớn nhất và là nơi sinh sống của các loài động vật, thực vật và côn trùng.
Rừng mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người dan, là nguồn sinh kế cho những hộ dân sống phụ thuộc vào rừng, cung cấp nguồn nguyên liệu như gỗ củi, thuốc, được liệu. thúc day kinh tế nước nhà phát triển. Rừng là nơi chứa đựng các nền văn hóa, tín ngưỡng liên quan đến cộng đồng định cư trong khu vực rừng. Hiện nay dân số tăng, nhu cầu về lâm sản tăng dẫn đến khai thác rừng quá mức và không khoa học làm cho diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng kéo theo suy giảm đa dạng sinh học.
Chính vì vậy dẫn đến làm mắt trạng thái cân bằng của môi trường, kéo theo là những thảm họa như lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất, cháy rừng xuất hiện ngày càng nhiều. Đặc biệt hơn khi mat rừng sẽ ảnh hưởng lớn tới nguồn sinh kế của người dân sống lân cận dựa vào rừng. Vì vậy, nhà nước cần có những chủ trương trong công tác bảo vệ rừng, ban hành nhiều chính sách, luật liên quan tới rừng dé tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý. Lâm phần do Ban quản rừng phòng hộ Phù Cát quản lý có điện tích rừng tự nhiên là 9.348,87 ha, tại tiểu khu 178 có diện tích là 704,1 ha với những trạng thái rừng khác nhau, trong đó có trạng thái rừng trung bình, tiểu khu 178 nằm trong địa giới hành chính xã Cat Sơn và hiện nay xã nay có diện tích rừng tự nhiên là 4.156,6 ha, chiếm gần 45% diện tích rừng tự nhiên của Ban đang quản lý.
Trong công tác quản lý rừng, việc nắm bắt những đặc trưng lâm học của rừng là vấn đề quan trọng và rất cần thiết, nó là cơ sở quan trọng trong cập nhật diễn biến rừng và là căn cứ để có được những kế hoạch, biện pháp lâm sinh phù hợp nhằm định hướng bảo vệ và phát triển rừng. Xuất phát từ những tình hình thực tiễn đó, trong khuôn khô một khóa luận tốt nghiệp kỹ sư Lâm học và mong muốn được đóng góp một phần nhỏ vào công tác nắm bắt, quản lý bảo vệ rừng đối với một trạng thái rừng trung bình tại khu vực nghiên cứu, được sự đồng ý và hướng dẫn của TS. Phan Minh Xuân, tác giả tiễn hành thực hiện đề tài nghiên cứu về những đặc điểm lâm học của trạng rừng trung bình tại tiểu khu 178 thuộc ban quản lý rừng phòng hộ Phù Cát, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Xác định những đặc điểm lâm học của trạng thái rừng trung bình tại tiểu khu 178 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Phù cát, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.2 Mục tiêu cụ thể - Xác định một số đặc điểm lâm học cơ bản của trạng thái rừng trung bình thông qua một số chỉ tiêu như thành phần loài cây gỗ, kết cấu loài, cấu trúc rừng và tình trạng tái sinh rừng. - Phân tích tính đa dạng loài cây gỗ đối với trạng thái rừng trung bình.3 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những diện tích rừng tự nhiên trạng thái rừng trung bình tại tiểu khu 178 thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Phù Cát, huyện Phù Cát, tinh Bình Định.
Đối tượng đo đếm và thu thập dữ liệu chỉ là thực vật thuộc nhóm loài cây gỗ, dé tài không dé cập và nghiên cứu đến các dạng sống khác. Chương 2 TỎNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Van đề nghiên cứu Các nhà khoa học lâm ghiệp trong và ngoài nước đã có nhiều những nghiên cứu cơ bản dé tìm hiểu ra rất nhiều nhân tố nhằm đánh giá đặc điểm cấu trúc của hệ sinh thái rừng cũng như đặc điểm tái sinh của rừng làm nền tảng cho các nhà nghiên Cứu sau này.1 Cấu trúc rừng Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp theo tô hợp của các thành phan cấu tạo nên quan thé thực vật rừng theo không gian và thời gian. Nhân tố này mang ý nghĩa quan trọng không thể thiếu trong công tác đánh giá đặc điểm của rừng, nó có ảnh hưởng to lớn đến quá trình cạnh tranh, hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành phần thực vật và sự tác động qua lại giữa chúng trong hệ sinh thái rừng. Trải qua nhiều thập kỷ nghiên cứu đã tạo nên một hệ thống mô tả cấu trúc rừng với các phương pháp khác nhau bằng các chỉ tiêu khác nhau.
Cấu trúc tô thành là nhân tổ quan trọng diễn ta số loài tham gia và số cá thé của từng loài trong thành phần cây gỗ của rừng. Mặt khác, tổ thành cho biết sự tô hợp và mức độ tham gia của các loàic ây gỗ khác nhau trên cùng đơn vị diện tích. Cấu trúc mật độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích. Phản ánh mức độ tác động giữa các cá thé trong lâm phan.
Mật độ ảnh hưởng đến tiểu hoàn cảnh rừng. Khả năng sản xuất của rừng. Độ tan che thé hiện mức độ che phủ của tán cây rừng trong lâm phan. Phân bồ số cây theo các chỉ tiêu sinh trưởng thé hiện qua biéu đồ và hàm toán học phân bố mật độ cây rừng theo các chỉ tiêu đó.
Mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thể hiện bằng biểu đồ và hàm toán học biểu thị quy định kích thước đường kính ứng với cấp chiều cao tương ứng, kết quả cho biết tình hình sinh trưởng và phát triển của rừng hiện tại cũng như xu hướng trong tương lai. Theo nghiên cứu về cau trúc được các nhà lâm nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam đã đạt được những kết quả. Trên thé giới, cấu trúc rừng là kết qua thé hiện mối quan hệ đấu tranh sinh tồn cũng như thích ứng lẫn nhau giữa các thành phần trong hệ sinh thái và môi trường. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng trên thế giới đã được tiến hành từ rất lâu nhằm xác định cơ sở khoa học đề xuất các biện pháp tác động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh cũng như môi trường rừng.
Baur (1961), rừng mưa là một quần xã kín tán, bao gồm những cây gỗ về căn bản là ưa âm, thường xanh, có lá rộng với hai tầng cây gỗ và cây bụi hoặc nhiều hơn nữa, cùng các tầng phiến có dạng khác nhau, cây bò leo và thực vật phụ sinh. Điều này nói lên rừng mưa nhiệt đới có những đặc trưng nhất định về loài gỗ chịu âm, nhiều tang tán và các dang sông khác nhau rất phức tap trong một kiêu rừng (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002). mà còn có thể xác định được kích thước bình quân của lâm phần phục vụ cho công tác điều tra quy hoạch rừng (Dẫn theo Huỳnh Thị Mỹ Hồng, 2022). Ở Việt Nam, nghiên cứu cau trúc rùng đã được nhiều tác giả thực hiện từ những năm đầu của thế kỷ XX.
Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhiệt đới ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn bởi sự thiếu thốn về kinh nghiệm, trình độ nghiên cứu, vật chất và sự phức tạp của rừng nhiệt doi, tuy nhiên những nghiên cứu cũng đã đạt được những thành tựu nhất định. Đồng Sĩ Hiền (1974), sau khi nghiên cứu tác giả đã rút ra kết luận cấu trúc rừng tự nhiên hỗn loài nước ta có dạng phân bồ giảm theo đường kính, về chiều cao có sự phân bồ theo nhiều đỉnh, các chỉ tiêu hình dang fo và f3 của các loài trong rừng tự nhiên hỗn loài có dang phân bồ tiệm cận với phân bố chuẩn, các quy luật này khác han so với rừng thuần loài đều tuổi. Theo Thái Văn Trừng (1978), tác phẩm dựa trên xem xét cau trúc tầng ưu thé, tầng dưới tán, tầng cỏ bụi và tầng cỏ quyết; tình trạng tán lá; chế độ khô âm và vùng khí hậu đã chia rừng Việt Nam thành 14 kiểu rừng. Những nghiên cứu cấu trúc của rừng tại Việt Nam là tiền đề cho sự phát triển kinh tế Lâm nghiệp Việt Nam.
Các nghiên cứu trên đã cung cấp kiến thức cơ bản để hiéu rõ cau trúc rừng nhiệt đới cũng như đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp mục đích quản lý và kinh doanh rừng.2 Đặc điểm tái sinh Theo Nguyễn Văn Thêm (2002), tái sinh rừng được hiểu là quá trình phục hồi các thành phan cơ bản của rừng gồm cây gỗ với các thành phần khác của lâm phan. Hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tô thành loài cây, cau trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bó. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cau trúc tuổi, chất lượng cây con và sự phân bố của chúng trong không gian. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards, 1952; Baur G.
Do tính chất phức tạp về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị, nên thực tiễn người ta chỉ quan tâm những loài cây có ý nghĩa nhất định (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2003). Các công trình nghiên cứu về phân bồ tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P. Tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bồ cây tái sinh tự nhiên, các tác đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x | m; 1 mx 1,5 m), cây tái sinh tự nhiên có dang phân bô cụm, một sô ít có phân bô Poisson. O Châu Phi, trên cơ sở các sô liệu thu thập, Taylor (1954); Bernard (1955) xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt, cần thiết phải b6 sung bằng trồng rừng nhân tạo.
Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Bava (1954); Budouski (1956); Atinol (1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nói chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế.