Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Sơ lược về phân loại rừng Khi nói đến phân loại rừng ở Việt Nam phải ké đến công trình tiêu biêu nhất của Thái Văn Trừng (1978, 1999), cho đến nay nhiều nhà lâm học vẫn còn áp dụng trong việc phân loại rừng cũng như xác định đối tượng nghiên cứu đối với rừng tự nhiên. Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh, tác giả đã phân loại rừng nước ta thành 14 kiểu thảm thực vật. Đây là công trình tổng quát, đáp ứng được yêu cầu về quy luật sinh thái.
Xuất phát từ tính đa dạng của rừng nhiệt đới, tác giả đã kết luận: Không thê dùng quần hợp thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản như các tác giả kinh điển đã sử dụng ở vùng ôn đới. Ông đề xuất dùng kiểu thảm thực vật làm đơn vị phân loại cơ bản và lấy hình thái, cau trúc quan thé làm tiêu chuẩn phân loại. Các kiểu rừng khác nhau có sự khác nhau về các chỉ tiêu lâm học, cũng như cùng một kiểu rừng nhưng ở các vùng sinh thái khác nhau thì các chỉ tiêu lâm học cũng khác nhau. Điều này đã được Trần Văn Con (2008) chứng minh trong kết quả nghiên cứu xác định đặc điểm lâm học của rừng sản xuất là rừng thứ sinh nghẻo ở 5 vùng sinh thái trọng điểm: Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Duyên hải miền Trung, Bắc Trung bộ và Tây Bắc.
Nhìn chung, hiện nay có khoảng 10 hệ thống hướng dẫn phân loại rừng, đất rừng, các loại hình sử dụng đất, KBT đang được nhiều quốc gia xem xét và sử dụng trong quá trình xây dựng chính sách và hệ thống phân loại rừng. Các hệ thống hướng dẫn phân loại này chủ yếu dựa vào 3 yếu tố chính: (i) điều kiện sinh cảnh tự nhiên, (11) mục dich sử dụng và (iii) theo loại hình sở hữu rừng. Tuy nhiên các hệ thống hướng dẫn phân loại rừng hiện nay trên toàn cầu chỉ mang tính hướng dẫn tham khảo, không mang tính quy chuẩn các nước phải tuân theo. Xu thế chung của các quốc gia cho thay, phần lớn phân rừng thành 3-5 loại dé đạt được 8 mục tiêu quản lý chính: (i) phòng hộ: (i) bảo đảm giá trị bảo tồn đa dang sinh học; (11) san xuất: (iv) rừng đô thị; (v) rừng phục vụ an sinh xã hội; (vi) rừng đa mục dich; (vii) rừng tín ngưỡng; và (viii) an ninh quốc phòng.
Khi phân loại rừng, các tô chức và các quốc gia đều cân nhắc dựa trên mục tiêu chính trị, xã hội, môi trường và kinh tế; vấn đề ưu tiên của ngành Lâm nghiệp là khá năng xây dựng hệ thống theo dõi, giám sát và đánh giá cho các loại rừng này dé có thé báo cáo với quốc tế. Từ đó, mỗi quốc gia tùy vào bối cảnh và mục tiêu phat triển kinh tế, chính trị, xã hội cũng như tầm nhìn, định hướng phát trién bền vững của ngành lâm nghiệp trong tổng thé phát triển chung của quốc gia dé tự xây dựng hệ thông phân loại rừng phủ hợp. Cân nhắc và tham khảo hệ thống hướng dẫn quốc tế và hài hòa trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam cũng như các nước khác thiết kế được hệ thống chính sách phù hợp và hiệu quả (Phạm Thu Thủy và ctv, 2020). Về quản lý nhà nước thì trước đây, việc phân loại trạng thái rừng ở nước ta được căn cứ vào Quy phạm ngành 6-84, Đến năm 2009, Bộ Nông nghiệp và PTNT ra văn bản phân loại rừng theo Thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng.
Tuy nhiên, đến nay hai văn bản trên đã không còn được sử dụng để phân loại rừng trên cả nước mà được thay thế bằng Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT và cho đến nay vẫn còn được sử dụng. Thông tư số 33/2018/TT-BNNPINT quy định tiêu chí xác định và phân loại rừng, các trạng thái rừng được phân chia dựa trên các tiêu chí về mục đích sử dụng, nguồn gốc hình thành, điều kiện lập địa, thành phần loài cây và trữ lượng rừng. Theo quy định phân chia dựa vào trữ lượng áp dụng với rừng gỗ tại Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT, các trạng thái rừng được phân chia như sau: a) Rừng giàu: trữ lượng cây đứng lớn hơn 200 m/ha; b) Rừng trung bình: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 mổ/ha; c) Rừng nghèo: trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 50 đến 100 m/ha; d) Rừng nghèo kiệt: trữ lượng cây đứng từ 10 đến 50 m*/ha; và đ) Rừng chưa có trữ lượng: trữ lượng cây đứng dưới 10 m°/ha. Đến ngày 15 tháng 12 năm 2023, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 16/2023/TT-BNNPTNT sửa đổi, bố sung một số điều của Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng; Thông tư này có hiệu lực thi hành kê từ ngày 01 thang 3 năm 2024; trong đó có nội dung thay thế phụ lục quy định phân chia trạng thái rừng của Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT.
Trong dé án này, kiểu rừng lá rộng thường xanh được quy định dựa trên thành phần loài cây, trong đó thành phần chủ yếu là các loài thực vật thân gỗ, lá rộng, xanh quanh năm chiếm trên 75% số cây. Trạng thái rừng nghiên cứu được xác định theo Thông tư số 33/2018/TT-BNNPTNT và Thông tư số 16/2023/TT-BNNPTNT; theo đó trạng thái rừng trung bình được ký hiệu là TXB có trữ lượng cây đứng từ lớn hơn 100 đến 200 mỶ/ha. Quan điểm về nghiên cứu rừng tự nhiên Trong địa lý học, người ta xem thảm thực vật rừng là một “hiện tượng tự nhiên”, một yếu tố cảnh quan dia lý, rừng là một vi trí đặc cách về quá trình chuyên hóa năng lượng và vật chất, chúng có một cơ chế đặc biệt trong việc tích lũy và tiêu hao một phần năng lượng và vật chất (Thái Văn Trừng, 1999). Khi nghiên cứu về rừng, các tác giả cũng đặc biệt quan tâm đến thành phần loài và vai trò của chúng trong quần xã.
Nhiều nhà lâm học cho rằng: mỗi loại rừng được hình thành bởi những loài cây khác nhau, vì thế khi phân tích tô thành rừng, nhà lâm học cần phải xác định chính xác tên loài cây và tỷ trọng của mỗi loài. Dựa vào những loài cây hình thành rừng, Richards đã phân chia rừng mưa nhiệt đới thành hai nhóm, trong đó nhóm một là rừng mưa hỗn hợp với nhiều loài cây ưu thế và nhóm hai là rừng mưa đơn ưu thế (Thái Văn Trừng, 1999). Trong lâm học, khi nói đến đặc điểm lâm học của rừng, người ta thường đề cập đến thành phan và tô thành loài cây, cấu trúc đường kính, cấu trúc chiều cao, cấu trúc trữ lượng và tiết diện ngang của rừng, phương hướng quá trình tái sinh và hình thành rừng, điều kiện môi trường rừng (khí hau, thé nhưỡng, địa hình) đặc điểm lớp cây bụi và thảm cỏ (Nguyễn Văn Thêm, 2002). Đa dạng sinh học của một khu vực nào đó thông qua ba số đo: sự giàu có về loài, da dang về loài và tính đồng đều về độ phong phú hay độ ưu thế của loài.
Hai thành phần cơ bản của đa dạng loài cây gỗ là chỉ số đa dạng và chỉ số đồng đều. Chỉ số đa dang loài cây gỗ được xác định bằng chi số ưu thế của Simpson (1949) và chỉ số đa dạng Shannon-Wiener (1948, 1949), phân bố độ phong phú của các loài trong quan xã (chỉ số đồng đều) có thể được đo đạc bằng các chỉ số Shannon- Wiener (1948), Simpson (1949), Pielou (1969), trong đó hai chỉ số thông dụng nhất là Shannon- Wiener và PIelou. Một trong những vấn đề được các nhà lâm học quan tâm là thành phần loài cây gỗ và vai trò của chúng trong QXTV. Thanh phần loài cây được xác định thông qua các 6 mẫu đo đếm dé xác định số lượng loài bắt gặp cũng như những đơn vị phân loại cao hơn loài (chi, họ, bộ), độ giàu có về họ cũng như độ phong phú của họ hay loài.
Vai trò của các loài trong QXTV, chi số giá trị quan trọng (IVI = Important Value Index) thường được sử dụng (Nguyễn Văn Thêm, 2010). Quan niệm về cấu trúc rừng được hiểu là sự tổ chức, sắp xếp của các thành phần theo không gian và thời gian, đã có nhiều nhà lâm học quan tâm đến phương pháp mô tả và đánh giá cấu trúc của rừng. Trước đây, việc mô tả cấu trúc rừng thường được áp dụng phương pháp biểu đồ rừng (biểu đồ phẫu diện rừng, trắc diện rừng, phẫu đồ rừng). Biểu đồ rừng mô ta sự phân tang và vị trí của những loài cây trong tán rừng theo không gian đứng và ngang.
Sau này, dé định lượng cấu trúc nhiều nhà lâm học đã khắc phục những thiếu sót nay bằng cách áp dụng những mô hình toán dé mô tả cau trúc rừng (dẫn theo Phan Minh Xuân, 2019). Đối với tái sinh rừng, nội dung nghiên cứu tái sinh rừng được xác định tùy theo mục tiêu nghiên cứu. Về cơ bản, các nhà lâm học quan tâm nhiều nhất đến kết quả tái sinh rừng và những yếu tố ảnh hưởng. Sự hình thành cây con dưới tán rừng nhiệt đới phụ thuộc vào điều kiện môi trường dưới tán rừng.
Yếu tô kiểm soát sự tồn tại và sinh trưởng của cây tái sinh dưới tán rừng là điều kiện ánh sáng, khô hạn, độ 4m đất, sâu bệnh và sự cạnh tranh của cây cỏ và cây bụi (Thái Văn Trừng, 1999). Hiệu quả tai sinh tự nhiên của rừng được xác định bởi mật độ. kết cấu loài cây, chất lượng cây con và đặc điểm phân bố cây tái sinh trên mặt đất. Tái sinh liên tục hay định kỳ được xác định thông qua phân bồ cây tái sinh theo những cấp chiều cao.
Chất lượng cây tái sinh được đánh giá thông qua hình thái (thân, cành, 14), nguồn gốc (hạt, chéi) và tình trạng sức sống (Tốt, trung bình, yếu). Phương pháp đánh giá chất lượng cây tái sinh thay đổi tùy theo mục tiêu nghiên cứu. Về mặt lý thuyết, chat lượng cây tái sinh được đánh giá tùy theo tinh trạng sức sống của cây tái sinh. Những cây khỏe mạnh là những cây có sức sống tốt, sinh trưởng mạnh và không bị sâu hại.
Trái lại, những cây yếu là những cây có sức sống kém, sinh trưởng kém và bị sâu hại. Theo quan điểm sản xuất, chất lượng cây tái sinh được đánh giá thông qua tình trạng sức sống và nguồn sốc (hạt, chồi) (N guyén Văn Thêm, 2002). Từ những quan điểm trên, trong nghiên cứu lâm học rừng tự nhiên, người ta thường quan tâm đến nhiều van dé, tiêu chí nghiên cứu khác nhau nhằm làm sáng tỏ những đặc tính của rừng để nắm bắt và làm cơ sở tác động lâm sinh.