CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước. Trên thế giới. Tegos, và các cộng sự với đề tài: “Patterns of brain computed tomography infarction and carotid plaque echogenicity” (Hình ảnh cắt lớp vi tính nhồi máu não và mảng xơ vữa hồi âm của động mạch cảnh) thực hiện trên 315 bệnh nhân đã cho thấy: Nhồi máu não trên CLVT não kiểu A có liên quan đến mảng giảm âm gợi ý có liên quan đến thuyên tắc động mạch cảnh ngoài sọ, trong khi kiểu B có liên quan đến mảng tăng âm gợi ý có sự tham gia của các cơ chế khác (huyết động học, bệnh lý mạch máu nhỏ và lớn trong sọ) [4].
và các cộng sự đã nghiên cứu đề tài: “CT perfusion predicts secondary cerebral infarction after aneurysmal subarachnoid hemorrhage” (CLVT tưới máu dự đoán nhồi máu não thứ phát sau xuất huyết dưới nhện do phình mạch) và đã đưa ra kết luận: Thời gian đạt đỉnh theo chỉ định của CLVT tưới máu là một yếu tố dự đoán sớm và nhạy của nhồi máu não thứ phát [5]. Tại Việt Nam. Năm 2020 Sor Sotheary, Vũ Đăng Lưu, và các cộng sự khi nghiên cứu đề tài: “Đặc điểm hình ảnh và vai trò chụp cắt lớp vi tính 128 dãy tưới máu não trong chẩn đoán nhồi máu não cấp do tắc động mạch cảnh trong” đã rút ra kết luận: hình ảnh cắt lớp vi tính 128 dãy tính tưới máu não của nhồi máu não cấp do tắc động mạch cảnh trong có đặc điểm: diện tích lõi nhồi máu trung bình lớn hơn diện tích lõi nhồi máu trung bình của nhóm bệnh nhân nhồi máu do tắc mạch vòng tuần hoàn trước nói chung, mặc dù đa số bệnh nhân đã nhập viện sớm. Từ mối tương quan giữa diện tích lõi nhồi máu và nguy cơ chảy máu sau can thiệp, cho phép tiên đoán BN NMN não cấp do tắc ĐM cảnh trong tỷ lệ chảy máu sau can thiệp cao hơn so với BN nhồi máu não do tắc mạch vòng tuần hoàn trước nói chung [6].
Trên tạp chí điện quang và y học hạt nhân Việt Nam số 39 – 10/2020 các tác giả Trương Thị Phương Thảo, và các cộng sự đã nghiên cứu để tài:“Vai trò của chụp cắt lớp vi tính mạch máu trong chẩn đoán hẹp tắc động mạch nội sọ ở bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu não cấp” cho thấy cắt lớp vi tính mạch máu não là một phương tiện không xâm lấn lý tưởng giúp phân biệt được các trường hợp hẹp nặng gần tắc và tắc động mạch nội sọ với độ chính xác và giá trị chẩn đoán cao. Với giá 3 trị chẩn đoán âm cao dù lấy ngưỡng chẩn đoán là 50% hay 70% cho thấy rằng CLVT mạch máu não vẫn là một phương tiện tầm soát lý tưởng để chẩn đoán hẹp động mạch nội sọ. Ngoài ra tắc kiểu thân trên CLVT mạch máu não cũng cho thấy có liên quan với tắc do xơ vữa động mạch nội sọ ở các bệnh nhân đột quỵ cấp. Từ đó giúp các bác sĩ phân loại và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp cho từng bệnh nhân [7].
Tổng quan vị trí, đường đi và tưới máu. Các nhánh của động mạch não được bắt đầu từ động mạch đốt sống hai bên và động mạch cảnh chung hai bên, động mạch cảnh chung hai bên có nguyên ủy và đường đi khác nhau, động mạch cảnh chung phải tách ra từ thân cánh tay đầu phải, ở sau khớp ức đòn phải; động mạch cảnh chung trái là nhánh của cung động mạch chủ. Động mạch cảnh chung đi lên dọc ở hai bên thực quản và hầu tới ngang bờ trên sụn giáp thì tận cùng bằng cách chia đôi thành động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài. Từ xoang cảnh động mạch cảnh ngoài chạy lên trên và ra ngoài qua hai vùng lúc đầu qua vùng tam giác cảnh rồi bắt chéo mặt sâu bụng sau cơ hai bụng đi vào vùng mang tai.
Khi tới sau cổ lồi cầu xương hàm dưới, nó tận cùng bằng hai nhánh là động mạch thái dương nông và động mạch hàm trên. Từ xoang cảnh động mạch cảnh trong đi qua bốn đoạn trước khi tách ra các động mạch cấp máu cho đại não. Động mạch chạy ra sau ở dưới mặt dưới của đại não rồi tận cùng ở chất thủng trước bằng động mạch não trước và não giữa. Động mạch não trước là nhánh phía trong, chạy ngay bờ ngoài của mấu giường trước và băng qua thần kinh thị và giao thoa thị, ở đó nó chia một nhánh nhỏ là động mạch thông trước (AComA) nối hai động mạch não trước hai bên với nhau.
Đoạn động mạch não trước trước khi chia ra động mạch thông trước gọi là đoạn A1. Hai đoạn A1 hai bên cùng với động mạch thông trước tạo thành nửa trước của đa giác Willis. Đoạn A1 mỗi bên cho ra trung bình tám nhánh xuyên nền đi vào não qua chất thủng trước. Nhánh lớn nhất trong số này là động mạch quặt ngược Heubner, thường xuất phát từ động mạch não trước gần chỗ xuất phát động mạch thông trước, ở cuối đoạn A1 hoặc đầu đoạn A2.
Các nhánh động mạch xuyên nền xuất phát từ đoạn A1 cấp máu cho phần bụng hạ đồi và một phần của cuống tuyến yên. Động mạch Heubner’s cấp máu cho đầu nhân đuôi, phần trước nhân bèo, cầu nhạt, và bao trong. Nguồn cấp máu cho phần dưới gối thể chai, phần hành khướu, 4 dải khướu và trigone rất thay đổi. Động mạch thông trước cho ra một vài nhánh nhỏ (các nhánh trung tâm trước trong) cấp máu cho vùng hạ đồi.
Các nhánh từ đoạn sau động mạch thông trước của động mạch não trước cấp máu cho mặt dưới của thùy trán (động mạch nền trán), mặt trong và cạnh đường giữa của thùy trán (động mạch chai bờ), tiểu thùy cạnh trung tâm (động mạch cạnh trung tâm) mặt trong và cạnh đường giữa của thùy đỉnh (động mạch trước chêm), và vỏ não vùng rãnh đỉnh chẩm (động mạch đỉnh chẩm) [8]. Động mạch não giữa là nhánh xuất phát phía ngoài hơn ở chỗ chia đôi động mạch cảnh trong. Đoạn đầu tiên của nó (đoạn M1 – đoạn xương bướm) chạy theo mấu giường trước khoảng 1-2 cm. Sau đó động mạch não giữa đổi hướng ra ngoài để vào đáy khe sylvius, ở đó nó nằm trên bề mặt thùy đảo và chia ra các nhánh của nó (đoạn M2 – đoạn thùy đảo).
Nó ngoặt gấp về phía sau để đi dọc theo bề mặt của nắp thùy đảo (đoạn M3 – đoạn nắp) và rồi cuối cùng đi ra khỏi khe Sylvius lên bề mặt lồi phía ngoài của não (đoạn M4, M5 – các đoạn tận). Đoạn M1 chia ra các nhánh nhỏ thẳng góc với nó, là các động mạch xuyên (các động mạch đồi thị - thể vân và thấu kính - thể vân), cấp máu cho vùng sâu, gồm các nhân nền, nhân trước tường, và bao trong, bao ngoài, bao cực ngoài. Đoạn M2 là các nhánh nông (nhánh vỏ não – màng mềm) của động mạch não giữa gồm hai nhánh chính là nhánh trên và nhánh dưới. Hai thân nhánh chính này chia tiếp các nhánh cấp máu cho vỏ não và các cấu trúc dưới vỏ thuộc mặt lồi bán cầu.
Cụ thể các nhánh M2 và M3 cấp máu cho thùy đảo (các động mạch thùy đảo), phần bên của hồi não trán dưới và trán ổ mắt (động mạch trán nền), và vùng nắp thái dương, bao gồm cả hồi ngang của Heschl (các động mạch thái dương). Các đoạn M4 và M5 cấp máu cho phần lớn vỏ não mặt lồi bán cầu não, gồm các phần thùy trán (các động mạch trước trung tâm và rãnh tam giác, động mạch rãnh trung tâm), thùy đỉnh (các động mạch sau trung tâm (đỉnh trước) và đỉnh sau) và thùy thái dương (các động mạch thái dương trước, giữa, và sau). Động mạch thái dương sau còn cấp máu cho một phần thùy chẩm; nhánh động mạch góc là một nhánh tận, cấp máu cho hồi góc. Các vùng vỏ não đặc biệt do động mạch não giữa cấp máu là vùng ngôn ngữ Broca (nhánh nông trên) và Wernicke (nhánh nông dưới) [8].
Các đoạn của động mạch cảnh trong [9]. Động mạch đốt sống tách ra từ mặt bên của động mạch dưới đòn. Nó chạy lên, chui qua lỗ mỏm ngang của sáu đốt sống cổ trên và lỗ lớn xương chẩm và trong sọ, nó chạy ra trước và lên trên qua mặt trước - bên của hành não và hợp với động mạch bên đối diện tạo nên động mạch thân nền ở giữa rãnh hành- cầu. Động mạch nền đi lên thành trong rãnh nền ở mặt trước cầu não và khi đi hết rãnh này thì chia thành hai động mạch não sau.
Động mạch não sau cấp máu cho phần chẩm thái dương của mặt thái dương của mặt dưới bán cầu đại não. Vòng động mạch não ở mặt dưới của não, các nhánh cấp máu cho đại não của cả hai động mạch cảnh trong động mạch nền tiếp nối với nhau tạo nên vòng động mạch não. Có cấu tạo như sau: Ở phía trước là hai động mạch não trước - nhánh của hai động mạch cảnh trong- nối với nhau ở động mạch thông trước. Ở phía sau là hai động mạch não sau, nhánh tận của động mạch nền.
Mỗi động mạch não sau nối với động mạch cảnh trong cùng bên qua động mạch thông sau. Vòng tuần hoàn của động mạch não (willis) [10]. Giải phẫu hình động mạch não Hình 1. Giải phẫu động mạch não [11].
7 DM NÃO TRƯỚC DM NÃO GIỮA DMCT PHẢI DM ĐỐT SỐNG DMC NGOÀI PHẢI DMC CHUNG (A) (B) Hình 1. (A) VR động mạch não dựng hình. (B) Hình ảnh Mip 3D sau dựng. Giải phẫu vùng phân bố của động mạch não theo điểm ASPECTS.
Vùng phân bố của động mạch não theo thang điểm ASPECTS [12]. Bốn vùng dưới vỏ: 8 - Nhân đuôi (C), nhân đậu (L), thùy đảo (I), đồi thị (T). Sáu vùng vỏ: - M1, M2, M3 tương ứng với vùng của nhánh trước, giữa, và sau của động mạch não giữa. - M4, M5, M6 tương tứng với các nhánh trên nhưng ở cao hơn.
Nhồi máu não là các tế bào não bị chết do thiếu máu xác định dựa vào: - Giải phẫu bệnh, hình ảnh học, hoặc bằng chứng khác về tổn thương não cục bộ thuộc vùng cấp máu của một động mạch xác định. - Bằng chứng lâm sàng thiếu máu não cục bộ dựa trên các triệu chứng tồn tại > 24 giờ hoặc tử vong, loại trừ các nguyên nhân khác. Phân loại giai đoạn nhồi máu não. Nhồi máu não cục bộ được phân chia thành các giai đoạn sau [1].
- Giai đoạn tối cấp: trước 6 giờ sau đột quỵ. - Giai đoạn cấp: từ 6 giờ đến 24 giờ sau đột quỵ. - Giai đoạn bán cấp 24 giờ -1 tuần. - Giai đoạn bán cấp muộn: từ 1 tuần - 2 tháng.
- Giai đoạn mạn tính: sau 2 tháng.