phần mở đầu, chúng tôi nêu: lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, đóng góp khóa luận, bố cục khóa luận. Trong phần nội dung, có ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Hành vi chào hỏi trong tiếng Việt Chƣơng 3: Hành vi chào tạm biệt trong tiếng Việt Cuối cùng là phần kết luận. e 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. LÝ THUYẾT HỘI THOẠI 1.
Khái niệm Giao tiếp là hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa con người với con người qua phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ. Giao tiếp diễn ra ở hai dạng: nói và viết, nhưng phổ biến là dạng nói. Trong giao tiếp dạng nói, hội thoại là hình thức cơ sở, phổ biến của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Cũng có thể nói, hội thoại là giao tiếp hai chiều và có sự tương tác, luân phiên giữa người nói và người nghe.
Khi hội thoại chỉ có 2 người gọi là song thoại (dialogue), khi hội thoại có ba người gọi là tam thoại (trilogue), khi hội thoại có nhiều hơn ba người gọi là đa thoại, nhưng dạng cơ bản nhất vẫn là song thoại. Nhân tố ngữ cảnh có vai trò lớn trong việc tạo lập và lĩnh hội các phát ngôn trong hội thoại. Trong những năm 1970 ở Mĩ, hội thoại xuất hiện và là một phân môn của ngành ngôn ngữ học với các nhà nghiên cứu như: Harvey Sack (1963, 1964), Heritage (1984). Sau đó là phân tích hội thoại xuất hiện ở Anh với tên gọi là “phân tích diễn ngôn” của trường phái Birmingham, có các nhà nghiên cứu tiêu biểu Sinclair và Coulthard (1975) với bài nghiên cứu: “Hướng tới việc phân tích diễn ngôn” trong đó là mô hình hội thoại của giáo viên và học sinh.
Sau những nghiên cứu đó, vào những năm 80 của thế kỉ XX với Eddy Roulet và Catherine Kerbrat Orecchioni. Grice (1975) là người có nhiều đóng góp cho việc nghiên cứu về lý thuyết hội thoại với công trình “Logic và hội thoại”. Trong đó, ông đã nghiên cứu nguyên lý cộng tác hội thoại với bốn kiểu nguyên tắc mà ông gọi là e 8 phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức. Ngoài ra, ông chia các phương diện liên kết hội thoại, các mức độ liên kết, sự liên kết luôn theo chiều tuyến tính, liên kết vừa mang tính tập thể vừa mang tính đơn thoại.
Đến nay, hội thoại dần lan rộng và phát triển một cách mạnh mẽ, nhanh chóng ở các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, cũng có các tác giả tiêu biểu đưa ra nhận định về hội thoại: Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Giao tiếp hội thoại là hoạt động cơ bản của ngôn ngữ. Trong giao tiếp hội thoại luôn luôn có sự hồi đáp giữa người nói và người nghe, chẳng những người nói và người nghe tác động lẫn nhau, mà lời nói của từng người cũng tác động lẫn nhau” [9, tr. Đỗ Hữu Châu thì cho rằng: “Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên của ngôn ngữ, là hoạt động cơ bản phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ.
Bên cạnh đó nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [6, tr. Lý thuyết hội thoại gồm rất nhiều vấn đề, tuy nhiên trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ đưa ra một số vấn đề có liên quan đến lý thuyết hội thoại để phục vụ cho nội dung nghiên cứu của luận văn. Đặc điểm hội thoại Thoại trường có nghĩa là không gian, thời gian tuyệt đối, khả năng can thiệp của người thứ ba với cuộc hội thoại đang diễn ra. Một cuộc thoại vốn là riêng tư của hai người nhưng nếu xuất hiện người thứ ba, dù là không xen vào cuộc hội thoại nhưng ít hay nhiều đều ảnh hưởng đến nội dung và hình thức hội thoại.
Thoại trường gồm hai đặc điểm: Thoại trường diễn ra ở nơi công cộng: diễn ra trong một cuộc mít tinh, lớp học, câu lạc bộ, cửa hiệu, hội thảo, tiệm ăn,… và thoại trường riêng tư: diễn ra trong phòng khách giữa chủ và khách, trong phòng riêng của gia đình,. e 9 Các cuộc thoại khác nhau ở số lượng người tham gia hội thoại: - Song thoại (tay đôi) (dialogue) - Tam thoại (tay ba) (trilogue) - Đa thoại (tay tư hoặc nhiều hơn) Dạng cơ bản của hội thoại là song thoại (tay đôi) (dialogue). Cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại có sự khác nhau tùy vào các cuộc thoại: - Tính chủ động hay bị động của đối tác (đối ngôn). - Sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe trong hội thoại.
Ví dụ: Đài FM. Tính có đích hay không có đích: Những câu chuyện chỉ là tán gẫu thường không có đích. Những cuộc hội nghị, thương thảo, ngoại giao, khoa học,. có đích được xác định một cách rõ ràng.
Tính có hình thức hay không có hình thức: Những câu chuyện chỉ là tán gẫu, chuyện trò đời thường không có hình thức, tổ chức. Ngược lại, những cuộc hội nghị thương thảo, ngoại giao, khoa học,. có hình thức tổ chức chặt chẽ, trang trọng. Do tính có hình thức và không có hình thức mà các cuộc hội thoại có thể diễn ra ở một trong ba ngữ vực: trường (field), thức (mood), không khí (tenor).
Tƣơng tác hành động Tương tác là tác động vào nhau, làm cho nhau biến đổi. Trong hội thoại sự tương tác là hiện tượng người tham gia hội thoại ảnh hưởng, tác động đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại. Nhân vật hội thoại là nhân vật liên tương tác, họ tác động lẫn nhau về mọi phương diện. Thể diện trong giao tiếp Thể diện trong giao tiếp là thuộc tính thuộc phạm trù ứng xử của con e 10 người trong giao tiếp, là tư cách, danh dự, sự tôn trọng của con người mà khi giao tiếp ai cũng muốn có được từ đối phương.
Chiến lược lịch sự Chiến lược là phương châm, kế hoạch, có tính toàn cục trong một lĩnh vực nào đó. Lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội, người ta có thể coi lịch sự như một chuẩn mực của xã hội. Có thể hiểu chiến lược lịch sự trong giao tiếp là phương châm, kế hoạch con người sử dụng khi giao tiếp để giữ gìn chuẩn mực trong giao tiếp, tránh sự xung đột giữa những người tham gia giao tiếp. Chiến lược lịch sự là yếu tố được coi trọng và có ảnh hưởng đến hiệu quả của giao tiếp.
Để nói về vấn đề lịch sự trong giao tiếp, chúng tôi dựa vào một số lý thuyết về lịch sự và văn hóa giao tiếp cơ bản của hai tác giả: R. Quan điểm phép lịch sự của R. Lakoff lịch sự là phương tiện để giảm sự xung đột trong diễn ngôn. Lakoff đưa ra hai quy tắc sử dụng ngôn ngữ: quy tắc diễn đạt rõ ràng và quy tắc lịch sự.
Khi nói về quy tắc lịch sự, R. Lakoff đã đưa ra ba loại quy tắc cụ thể: Không áp đặt (Don’t impose), để ngỏ sự lựa chọn (Offer options) và thể hiện tình bằng hữu (Encourage feelings of camaraderie). Thứ nhất, quy tắc lịch sự có tính quy thức nhất (Không áp đặt): Không áp đặt với người nghe: người nói tránh sử dụng hành vi ngôn ngữ mang tính áp đặt hoặc người nói có thể sử dụng các giải pháp làm giảm đi hay hạn chế sự áp đặt trong lời nói của mình. Bên cạnh đó, người nghe có thể hành động theo ý mình.
Vì vậy, lịch sự quy thức có tính phi cá nhân (impersonal). Dùng trong phép lịch sự quy thức. Phù hợp với giao tiếp quyền lực (giữa nhân viên với giám đốc, giữa cấp dưới với cấp trên, giữa học sinh với giáo viên,…). e 11 Cách thức: Thường sử dụng các biểu thức như: xin lỗi, xin phép, có thể, câu hỏi đề nghị, từ cảm thán,… Ví dụ sau thể hiện mức độ lịch sự tăng lên theo hướng giảm dần sự áp đặt: (1) Give me a book! (`Đưa cho tôi quyển sách).
Thứ hai, quy tắc lịch sự phi quy ước (Để ngỏ sự lựa chọn): Là quy tắc dành cho người nghe sự lựa chọn. Người nói sẽ nói đường vòng, đề xuất một cách gián tiếp, dùng hàm ý, lối nói rào đón (hedges) để người nghe nhận ra ý định và đi theo quan điểm của mình. Dùng trong lịch sự phi quy thức. Phù hợp với giao tiếp phi quyền lực nhưng không có quan hệ gần gũi giữa những người tham gia giao tiếp, có sự ngang bằng nhau về quyền lực và địa vị xã hội (không quen biết hoặc thân thiết, ví dụ như: giữa hai người xa lạ nhưng đang là bệnh nhân ở một bệnh viện, giữa hai người xa lạ gặp nhau trong một quán cafe,…).
Cách thức: Sử dụng cách nói xa hoặc giảm nhẹ, hàm ý, rào đón: có lẽ, hẳn là, vui lòng, liệu có thể,… Ví dụ, người nói dùng lối nói hàm ẩn để người nghe nhận ra ý định của mình: (4) “Chị không dùng đến quyển sách này nữa đâu nhỉ?”. Thứ ba, quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình (thể hiện tình bằng hữu): Dùng trong giao tiếp bằng vai phải lứa, quan hệ thân thiết, để có thể giao e 12 tiếp với nhau mọi chủ đề, nói với nhau mọi chuyện. Trái với phép lịch sự quy thức, nguyên tắc chi phối ở đây là tỏ ra sự quan tâm thực sự, tỏ ra săn sóc, tin cậy nhau bằng cách thổ lộ hết những thứ trong cuộc sống, kinh nghiệm, cảm xúc,… của nhau. Cách thức: Hạn chế cách nói gián tiếp và các biểu thức rào đón.
Sử dụng những từ xưng hô, cách nói suồng sã, tiếng lóng, thổ ngữ,… Với ba quy tắc về phép lịch sự, R. Lakoff đã cho thấy trong bối cảnh văn hóa khác nhau sẽ có sự thể hiện khác nhau về phương thức nhưng hình thức cơ bản là giống nhau. Văn hóa lịch sự cũng thích hợp với hoạt động giao tiếp phi lời. Quan điểm phép lịch sự của G.
Leech Đặc trưng cơ bản trong hệ thống lý thuyết về lịch sự của G. Leech là không xây dựng lịch sự trên nền nhân tố thể diện mà dựa trên: tổn thất (cost) và lợi ích (benefit) giữa những người tham gia giao tiếp. Dựa vào khái niệm trên, G. Leech đã đưa ra một siêu nguyên tắc gồm sáu phương châm sau: Thứ nhất, phương châm khéo léo (Tact maxim): giảm thiểu tổn thất và tăng tối đa lợi ích cho người trong các phát ngôn cầu khiến hay cam kết (Hãy giảm thiểu những điều bất lợi, tăng tối đa những điều có lợi cho người nghe).