MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Giao tiếp là một trong những phƣơng thức tồn tại xã hội của loài ngƣời. Con ngƣời không thể sống, hoạt động và thể hiện các giá trị vật chất, tinh thần của mình nếu không đƣợc giao tiếp. Giao tiếp là nhu cầu sớm nhất của con ngƣời từ khi tồn tại đến khi mất đi, ở đâu có sự tồn tại của con ngƣời thì ở đó có sự giao tiếp giữa con ngƣời với con ngƣời, giao tiếp là cơ chế bên trong của sự tồn tại và phát triển con ngƣời [32].
Mặt khác, khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ khiến con ngƣời khác các loài động vật khác. Ở đối tƣợng trẻ em, giao tiếp là tiền đề, là nhu cầu đầu tiên để chúng có thể kết nối với xã hội loài ngƣời: bắt đầu là những tiếng khóc chào đời, là những ánh mắt hóng chuyện, những phản xạ khi có tiếng động, âm thanh, rồi đến những hành động cử chỉ thể hiện ý muốn và những âm bập bẹ đầu tiên của lời nói [4]. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu khoa học, không phải trẻ nào cũng đi theo tiến trình phát triển ấy. Thực tế là, có ít nhất 10 – 15% dân số có những rối nhiễu tâm lý, trong đó tập trung quá nửa ở đối tƣợng trẻ em [11].
Có nhiều mức độ chậm nói khác nhau và do những nguyên nhân khác nhau (có đến 20 dạng rối loạn phát triển tiếng nói). Việc xác định sớm và tìm đƣợc nguyên nhân chậm nói để can thiệp sớm giúp trẻ phát triển tiếng nói và tham gia vào các quá trình giao tiếp thông thƣờng là rất quan trọng. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tỷ lệ trẻ đƣợc chẩn đoán là chậm nói khá cao. Tại các bệnh viện Nhi, số trẻ chậm nói, mắc bệnh tự kỷ hoặc tăng động giảm chú ý phải điều trị bán trú thƣờng xuyên rơi vào tình trạng quá tải.
Ở các bệnh viện chuyên khoa Tai mũi họng hàng tháng có khoảng 100 trẻ đến khám vì chậm phát triển ngôn ngữ, trong đó 30% chậm nói do yếu tố tâm lý. Thực trạng chẩn đoán cho trẻ em chậm nói ở Việt Nam còn mang tính hình thức, mang tính kinh nghiệm và chƣa chính xác. Hiện nay khi trẻ chậm nói, cha mẹ thƣờng đƣa trẻ tới các cơ sở y tế để thăm khám về bệnh lý tự kỷ trong khi có hàng chục nguyên nhân chậm nói khác nhau. Các phƣơng thức ứng phó tâm lý đƣợc các bậc cha mẹ sử dụng nhiều nhất khi con chậm nói: cho rằng trƣớc sau con cũng sẽ nói đƣợc nên để con tự phát triển; mời chuyên gia về dạy nói cho con và trông cậy toàn bộ vào các chuyên gia; 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dự đoán và quy gán bệnh cho con: nhƣ con bị tự kỷ, tăng động.
Việc chậm nói ở trẻ ảnh hƣởng nhiều đến sự phát triển tâm lý của trẻ và gia đình của trẻ. Thêm nữa, các nghiên cứu về trẻ chậm nói, về vấn đề giao tiếp của trẻ chậm nói hiện nay chƣa nhiều và thƣờng dừng ở góc độ giáo dục đặc biệt do quan niệm trẻ chậm nói là trẻ khuyết tật. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của trẻ chậm nói với các nội dung, hình thức và cách thức giao tiếp đặc trƣng riêng của nhóm đối tƣợng này trong môi trƣờng gia đình và các môi trƣờng khác sẽ không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn. Do đó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là “Đặc điểm giao tiếp của trẻ chậm nói” (nghiên cứu ở nhóm trẻ từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi).
Mục đích nghiên cứu. Nghiên cứu lý luận và thực trạng đặc điểm giao tiếp của trẻ chậm nói từ 18 tháng đến 5 tuổi, phân tích các yếu tố nguy cơ dẫn tới tình trạng chậm nói ở trẻ. Trên cơ sở đó, đề xuất thực hiện một số kỹ năng cụ thể để thiết lập mối quan hệ giao tiếp và tăng cƣờng khả năng giao tiếp hiệu quả ở trẻ chậm nói. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ cho đề tài. Phân tích thực trạng đặc điểm giao tiếp ở trẻ chậm nói thông qua các nghiên cứu trƣờng hợp điển hình. Phân tích một số yếu tố nguy cơ dẫn tới tình trạng chậm nói ở trẻ. Đề xuất thực hiện một số kỹ năng cụ thể để thiết lập mối quan hệ giao tiếp và tăng cƣờng khả năng giao tiếp hiệu quả ở trẻ chậm nói.
Đối tƣợng nghiên cứu. Nội dung giao tiếp, hình thức giao tiếp và mức độ giao tiếp của trẻ từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi đƣợc chẩn đoán là chậm nói. Khách thể nghiên cứu. Trẻ chậm nói từ 18 tháng tuổi đến 5 tuổi không bao gồm các rối nhiễu tâm lý khác nhƣ: tự kỷ, tăng động giảm chú ý, chậm phát triển trí tuệ.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phạm vi nghiên cứu.1 Khách thể và địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu 01 trẻ chậm nói đƣợc đƣa đến trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng Khoa học Tâm lý – Giáo dục (số 3 ngõ 259/5 Phố Vọng, Hai Bà Trƣng, Hà Nội) để can thiệp. Nghiên cứu 03 trẻ chậm nói đƣợc can thiệp tại nhà trên địa bàn Hà Nội.2 Giới hạn vấn đề nghiên cứu. Có nhiều đặc điểm giao tiếp khác nhau ở trẻ chậm nói.
Tuy nhiên, trong đề tài này chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu 3 đặc điểm sau. Thứ nhất nội dung giao tiếp (số lƣợng từ, số lƣợng câu đạt đƣợc so với lứa tuổi). Thứ hai là hình thức giao tiếp (tƣơng tác với ngƣời khác thông qua hành vi, cử chỉ, lời nói. Thứ ba là mức độ giao tiếp (sự thể hiện nhu cầu giao tiếp thƣờng xuyên hay không thuwongf xuyên).
thông qua việc sử dụng các bài tập đặc biệt. Những đặc điểm này đƣợc quan sát, phân tích và nghiên cứu dựa trên những tiểu chuẩn đánh giá các lĩnh vực phát triển tâm vận động của trẻ thông thƣờng qua các bộ công cụ là Denver II, bản đánh giá sơ bộ. Giả thuyết khoa học. Nội dung giao tiếp chủ yếu đƣợc thể hiện bằng sự hạn chế số lƣợng từ và câu trong giao tiếp.
Hình thức giao tiếp của trẻ chậm nói chủ yếu đƣợc thể hiện bằng các hành vi cử chỉ thay cho lời nói. Mức độ giao tiếp của trẻ đƣợc thể hiện thông qua nhu cầu mong muốn giao tiếp của trẻ. Tuy nhiên đặc điểm về nội dung và đặc điểm về hình thức giao tiếp là hai đặc điểm nổi trội hơn so với mức độ giao tiếp. Nếu thực hiện kỹ năng bắt chƣớc trƣớc lời nói, kỹ năng giao tiếp ngang tầm mắt, kỹ năng tập trung chú ý cho trẻ trong quá trình can thiệp thì sẽ giúp trẻ thiết lập đƣợc mối quan hệ giao tiếp và tăng cƣờng khả năng giao tiếp hiệu quả.
Phƣơng pháp nghiên cứu.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Phương pháp quan sát 8.2 Phương pháp trắc nghiệm 8.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp 8.4 Phương pháp xây dựng hồ sơ tâm lý 8.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 9. Đóng góp của luận văn.1 Về mặt lý luận Đề tài luận văn đã góp phần hệ thống hóa, cập nhật, bổ sung một số vấn đề lý luận về giao tiếp, đặc điểm giao tiếp ở trẻ chậm nói. Đề tài cũng đã khái quát một số yếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng chậm nói ở trẻ.2 Về mặt thực tiễn Qua nghiên cứu 4 trƣờng hợp trẻ chậm nói, chúng tôi phát hiện ra các đặc điểm giao tiếp của trẻ chậm nói nhƣ sau: giảm thiểu trong khả năng nhận thức, hạn chế sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ nhƣ kéo tay ngƣời khác, thể hiện nét mặt cảm xúc… để thể hiện nhu cầu của bản thân. Các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến quá trình giao tiếp của trẻ chậm nói có thể kể đến: tiền sử gia đình có bố mẹ chậm nói, sự thiếu hụt trong những năm đầu đời của hoạt động tiếp xúc gần gũi nhƣ trong các trò chơi, cƣời đùa, bồng ẵm…, thiếu môi trƣờng tiếp xúc với bên ngoài, sử dụng giao tiếp một chiều (xem tivi, ipad) quá 5h/ngày…).
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG CHẬM NÓI VÀ ĐẶC ĐIỂM GIAO TIẾP CỦA TRẺ CHẬM NÓI 1.1 Tổng quan nghiên cứu về chứng chậm nói ở trẻ em và vấn đề giao tiếp của trẻ chậm nói.1 Các nghiên cứu về chứng chậm nói và vấn đề giao tiếp của trẻ chậm nói ở nước ngoài.1 Các nghiên cứu về chứng chậm nói ở nước ngoài. Lời nói và ngôn ngữ là cách thức để con ngƣời kết nối và chia sẻ những suy nghĩ, những ý tƣởng và những cảm xúc cho nhau. Bởi vậy, việc kiểm tra xem sự phát triển ngôn ngữ và lời nói của trẻ có tiến triển bình thƣờng hay không là điều cần thiết và đòi hỏi sự quan tâm một cách xác đáng của cha mẹ, những ngƣời chăm sóc trẻ. Mặc dầu chỉ có một kiểu chung cho sự phát triển lời nói và giao tiếp, nhƣng mỗi trẻ khác nhau lại cho thấy nhịp độ phát triển rất khác nhau, và mối quan tâm của cha mẹ là chỉ báo quan trọng chỉ ra những vấn đề tiềm ẩn ở sự phát triển lời nói, ngôn ngữ của trẻ.
Trên thế giới, việc nghiên cứu về chứng chậm nói ở trẻ đã đƣợc chú trọng từ khá lâu. Tỷ lệ trẻ có rối loạn ngôn ngữ nói và viết ở các quốc gia trên thế giới đã đƣợc báo cáo qua nhiều nghiên cứu khác nhau. Ở Pháp, tỷ lệ này chiếm khoảng 4 - 5% số trẻ từ 5 đến 9 tuổi (trong đó 1% ở dạng nặng) và có khoảng 10 - 16% số trẻ chậm nói trong một độ tuổi cụ thể liên quan đến những rối loạn học tập [44]. Kết quả của các nghiên cứu ở Mỹ, Canada, New Zealand và Anh đƣợc thực hiện phần lớn trên trẻ từ 5 đến 8 tuổi cho thấy, chậm nói thƣờng đi kèm với các thiếu hụt đặc hiệu về ngôn ngữ.
Tỷ lệ trẻ chậm nói giảm dần theo độ tuổi: 11% ở trẻ 5 tuổi; 9,7% ở trẻ 6 tuổi; 6,5% ở trẻ 7 tuổi và chỉ còn 2 - 3% ở trẻ 8 tuổi [13]; trong đó, tỷ lệ những trẻ sống ở thành thị bị chậm nói cao hơn những trẻ sống ở nông thôn [42]. Những nghiên cứu về chứng chậm nói ở trẻ và về trẻ chậm nói thƣờng tập trung vào các hƣớng nghiên cứu sau: 1/Mối quan hệ giữa chậm nói và sự phát triển 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.