Chương 1 LÝ THUYẾT CỔ MẪU VÀ NHỮNG ĐIỂM TỰA CỦA LÝ THUYẾT CỔ MẪU TRONG NGHIÊN CỨU TRUYỆN CỔ TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ QUẢNG NAM Trong nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam trên phương diện nhìn từ một lý thuyết nào đó là một việc làm thú vị và đang được ưu tiên. Ở từng góc nhìn, điểm nhìn đã đem lại cho việc nghiên cứu những ứng dụng mới, nhìn nhận sự vận động của văn học một cách đa chiều và toàn diện hơn. Ở chương viết đầu tiên này, chúng tôi khái quát những vấn đề cần thiết trong phạm vi lý thuyết cổ mẫu của Carl Gustav Jung (C.Jung), đồng thời giới thiệu khái quát về truyện cổ các tộc người thiểu số ở miền núi Quảng Nam và điểm tựa của lí thuyết cổ mẫu trong việc phân tích đặc điểm cổ mẫu của truyện kể các dân tộc miền núi Quảng Nam. Khái lược về lý thuyết cổ mẫu 1.
Giới thuyết khái niệm: cổ mẫu và những thuật ngữ liên quan Về mặt thuật ngữ, khi bàn về cổ mẫu, các nhà lí luận thường đề cập ba khái niệm tương quan là hình tượng, biểu tượng, cổ mẫu. Hình tượng (image) là hình ảnh dùng để chuyên chở ý nghĩa tinh thần của một vật, một sinh thể, một ý niệm, theo mối quan hệ tương đồng (ẩn ngầm hay hiển lộ) giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, nhằm đưa đến một cảm nhận trực tiếp và khơi gợi trí tưởng tượng của người tiếp nhận. Tác phẩm văn học là thế giới của vô số hình tượng. Biểu tượng (symbol) cũng là hình tượng, nhưng là hình tượng có khả năng biểu đạt một ý nghĩa có tính bền vững và phổ quát.
Những ý nghĩa ấy bắt nguồn từ văn hóa, tôn giáo, lịch sử của các cộng đồng. Cổ mẫu (Archetypes) là thuật ngữ được C.Jung xác lập năm 1912, khi xuất bản cuốn Tâm lí học vô thức.Jung đã đưa ra một định nghĩa ngắn gọn cho khái niệm cổ mẫu như sau “cổ mẫu có nghĩa là một typos (dấu ấn), một tập hợp xác định các đặc tính cổ xưa, về hình thức cũng như về ý nghĩa, các motip huyền thoại”. Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới giải thích: “Các mẫu gốc giống nhau như những nguyên mẫu của các tập thể biểu tượng ăn sâu trong vô thức đến nỗi chúng trở thành như một cấu trúc…” [27, tr 709]. Từ điển văn học định nghĩa: “Cổ mẫu là khái niệm dùng để chỉ những mẫu của các biểu tượng, các cấu trúc tinh thần bẩm sinh, trong tưởng tượng của con người, chứa đựng trong vô thức tập thể của cộng đồng nhân loại; vô thức tập thể này là một yếu tố đặc trưng cho tất cả các vô thức cá nhân” [37, tr.
Như vậy, cổ mẫu trước hết cũng là biểu tượng nhưng có sức khái quát cao hơn 8 biểu tượng, là những mẫu của các biểu tượng. Nó là những gì lắng đọng trong tâm thức của con người qua hàng ngàn thế hệ để trở thành vô thức tập thể. Ở Việt Nam, theo thống kê của Nguyễn Quang Huy, cổ mẫu được định danh theo nhiều cách khác nhau: sơ nguyên tượng (Kim Định), siêu mẫu (Vũ Đình Lưu, Đỗ Lai Thúy), nguyên mẫu (Phan Quang Định), mẫu cổ (Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu), cổ mẫu (Phương Lựu, Nguyễn Thị Thanh Xuân), Đồ hình vĩnh cửu (Đỗ Lai Thúy), Archétype (Văn Giá, Đào Vũ Hòa An, Lưu Tuấn Ảnh). Các nhà lý luận huyền thoại coi archétype của Jung là nguyên mẫu tân sinh.
Trong các công trình của mình, chính Jung cũng có các tên gọi khác nhau: Siêu tượng, vết tích bản cổ, hình ảnh nguyên thủy; S. Freud gọi là Vết tích tối cổ (résidus archaques). Dù tên gọi có khác nhau nhưng các thuật ngữ đều thể hiện ý nghĩa chung “là những yếu tố tâm thần không thể cắt nghĩa được bằng một sự việc xảy ra trong đời sống. Nó hình như bẩm sinh đã có, có từ nguyên thủy, nó là một thành phần trong gia tài tinh thần nhân loại” [16, tr 267].
Quan niệm của C.Jung về cổ mẫu Cho đến nay, nền tâm lý học hiện đại, văn hóa học, nhân chủng học, văn học… đã ghi nhận và đánh giá cao về những cống hiến của Jung từ các công trình nghiên cứu của ông cho các kiểu tâm lý (hướng nội và hướng ngoại), về cách hiểu mới về libido… đặc biệt là vô thức tập thể mà trung tâm là các cổ mẫu (lesArchetypes). Carl Gustav Jung (1875 - 1961), nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, người sáng lập tâm lý học phân tích là một nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới với tư cách một người đề xuất và giới thiệu nhiều khái niệm mới trong khoa học tâm lý. Rất nhiều những thuật ngữ như hướng nội, hướng ngoại, vô thực tập thể, phức cảm, cổ mẫu. trong lý thuyết tâm lý học phân tích của Jung trở thành những khái niệm cơ bản được vận dụng phổ biến trong nghiên cứu phê bình văn học.Jung đã tập trung nghiên cứu và đưa ra khái niệm về cổ mẫu, những luận điểm quan trọng nhất của C.Jung về cổ mẫu trên lĩnh vực tâm lý học phân tích được thể hiện tập hợp trong công trình điển hình Archetypes and The Collective Unconscious (Cổ mẫu và vô thức tập thể).
Trong khi nói về vô thức tập thể, C.Jung đã dành nhiều hứng thú cho cổ mẫu, ông trình bày rất tinh tế cái thế đứng cheo leo của cổ mẫu như là những cây trái mọc lên nơi giáp ranh của khu vườn lý trí và khu rừng bản năng. Khác với Freud quan niệm libido chỉ là xung năng tình dục, do đó, chỉ chú ý đến vô thức cá nhân, Jung cho rằng libido là toàn bộ năng lượng sống, nên ông chú trọng đến vô thức tập thể. Từ đó ông tìm ra siêu mẫu (archétype) và con đường di truyền văn hóa” [4, tr 505]. Theo Jung, về nguồn gốc xuất phát, cổ mẫu thoát thai từ vô thức tập thể - “nơi tàng trữ cô đọng lại những kinh nghiệm của cả loài người” [4, tr 95] xuất hiện từ thời kỳ hồng hoang của nhân loại.
Theo ông, cổ mẫu là kết quả của quá trình ngưng kết vô thức tập thể, tức là những mô hình nhận thức và những hình tượng nguyên thủy. Về nội dung, cổ mẫu là “bản tổng kết đã được công thức hóa của khối kinh nghiệm điển hình to lớn của vô số các thế hệ tổ tiên, đó có thể nói là vết tích tâm lý của vô số cảm xúc cùng một 9 kiểu” [4, tr. Cổ mẫu được phát hiện không phải chỉ với bản năng mà còn thông qua chiêm mộng, mơ tưởng, khải tượng; bởi nguồn cội cuối cùng của nó là những tầng sâu của vô thức tập thể, nơi được tàng trữ cô đọng lại những kinh nghiệm của cả loài người trải qua nhiều truyền thống của nhân loại trong không gian và thời gian. Khi thâm nhập sâu vào các giấc mơ, các huyễn tưởng, ông phát hiện ra những cấu trúc chung thuộc về mọi người, thuộc về vô thức tập thể.
Đặc trưng và các dấu chỉ nhận biết cổ mẫu trong văn họcdân gian Trên cơ sở những nghiên cứu nền tảng của C.Jung, các học giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau đã sử dụng lý thuyết này để áp dụng vào lĩnh vực nghiên cứu của mình, trong đó có ngành folkore học. Điển hình nhất là công trình có tên gọi Germanic Mythology (huyền thoại Đức) của anh em nhà Jakov Grimm. Công trình này đã cung cấp những chỉ dẫn quan trọng có tính phương pháp luận trong nghiên cứu văn bản folkore. Từ đó đến nay, rất nhiều học giả trên thế giới đã ứng dụng lý thuyết cổ mẫu để nghiên cứu về văn học dân gian, trong đó có truyện kể dân gian.
Điển hình có thể kể đến: The Urban Legends of Cagayan de Oro: Themes, Archetypes, Psyche (Truyền thuyết đô thị của Cagayan de Oro: Chủ đề, Cổ mẫu, Tâm lý) của các tác giảRamir Philip jones V. Đi tìm dấu chỉ nhận biết cổ mẫu trong văn học dân gian qua lí thuyết nền tảng của Jung, luận văn dựa vào kết quả nghiên cứu của Nguyễn Quang Huy trong bài Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu (archétype) in trong Tạp chí Sông Hương, SH281/7-12, các cổ mẫu (những yếu tố tâm thần chung) trong lý thuyết của Jung liên quan đặc biệt đến thần thoại, truyện cổ tích và các motif tôn giáo. Ông cho rằng “nội dung cơ bản của các huyền thoại, các tôn giáo, các chủ nghĩa là cổ mẫu” [4, tr 155]; “Nguyên mẫu (cách gọi khác của cổ mẫu) hiện diện trong tất cả những truyện thần thoại, cổ tích và những sản phẩm tưởng tượng của con người” [30, tr.104] và có những mô hình cổ mẫu phổ biến ở tất cả các câu chuyện kể dân gian, ở bất kỳ nền văn hóa hay các giai đoạn lịch sử khác nhau.Trong đó theo ông, cổ mẫu là kết quả của quá trình ngưng kết vô thức tập thể, tức là những mô hình nhận thức và những hình tượng nguyên thủy. Ông đã đưa ra nhận định rằng: Có những mô hình cổ mẫu phổ biến ở tất cả các câu chuyện dân gian, ở bất kỳ nền văn hóa hay các giai đoạn lịch sử khác nhau.
Trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm, G.Jung đã tìm được qua các test liên tưởng của mình sự cấu thành vô thức cá nhân từ những tổ hợp mang sắc thái cảm xúc (complex), tức là những “nguyên tử” của tâm thần được tạo ra chủ yếu từ những chấn động (trauma) do xung đột giữa cái tôi và môi trường bên ngoài. Còn với vô thức tập thể, những nội dung của nó đã được Jung cố gắng tìm kiếm thông qua việc nghiên cứu các huyền thoại, các chuyện cổ tích, phân tích giấc mơ, nghiên cứu và điều trị y học, nghiên cứu tôn giáo, giả kim thuật và từ đó phát hiện ra cổ mẫu (archetype) là yếu tố cấu thành của vô thức tập thể. Có thể nói rằng toàn bộ cổ mẫu chính là nội dung của vô thức tập thể, hay so sánh một cách đơn giản hơn, vô thức tập thể là một vòng tròn bao 10 quanh tất cả các cổ mẫu. Tác phẩm văn chương đầu tiên của nhân loại mà cổ mẫu ngả bóng vào là huyền thoại, hay nói khác đi, khi đến với thế giới hào sảng, phóng khoáng của huyền thoại, người đọc cổ mẫu có nhiều hy vọng tìm thấy những cái cần tìm đã được bảo chứng.
Freud, “huyền thoại là những giấc mơ trần gian của nhân loại ở tuổi thiếu niên” và giấc mơ thuở ấy của con người, theo Gaston Bachelard, “mạnh hơn kinh nghiệm thực tiễn”. Bởi vì, “đối với người nguyên thuỷ, tư duy là sự mơ mộng được tập trung, còn đối với người văn minh, mơ mộng là một tư duy được thư giãn” [16, tr 267].