Đặt vấn đề Việt Nam là quốc gia nằm trong vừng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa, sở hữu lượng mưa hàng năm dồi dào, độ 4m cao. Khí hậu Việt Nam được phân hóa da dang từng miền có từng kiểu khí hậu đặc trưng. Đó là cơ sở thuận lợi của giới sinh vật phát triển một cách phong phú và đa dạng. Điều đáng buồn là năm 1945 diện tích rừng nước ta đạt 14,3 triệu hecta có tỷ lệ che phủ đến 43,8% và sau giải phóng trong giai đoạn 1976 - 1995, thời kì phục hồi kinh tế sau chiến tranh thì rừng bị suy giảm nhanh nhất chỉ còn 9,3 triệu hecta và độ che phủ chỉ còn đạt 28,2%.
Trước sự suy giảm nhanh chóng đó chính phủ đã tuyên bố đóng cửa rừng tự nhiên, đồng thời tiến hành trồng bổ sung, nhờ các chính sách của nhà nước, các phương pháp quản lí, những điều luật kịp thời nên diện tích rừng năm 2016 đã được phục hồi bằng diện tích rừng năm 1945 là 14,3 triệu hecta nhưng độ che phủ chỉ đạt 41,19%. Theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện trạng rừng quốc gia từng năm đã đạt được 14,47 triệu hecta rừng và có độ che phủ 42,02% năm 2022 theo quyết định số 2860/QD-BNN-TCLN. Tuy điện tích rừng đã được cải thiện và tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng nên chất lượng và đa dạng bị giảm sút không còn như hiện trạng ban đầu. Vườn Quốc gia Bidoup — Núi Bà được mênh danh là “nóc nhà Tây Nguyên” là một trong những Khu Bảo tồn quan trọng của Việt Nam có diện tích 70.
Khu vực mang nhiều chức năng rừng đầu nguồn với chức năng chính là bảo vệ đa dang sinh học ngoài ra còn có giá tri kinh tế và du lịch. VQG hiện nay có hơn 2.089 loài thực vật, trong đó có 74 loài năm trong Sách đồ Việt Nam 2007 và 35 loài có trong danh mục đỏ của Liên Minh Quốc tế (IUCN). Sự đa dạng về loài và tính phong phú của khu vực đang bị tác động xấu từu mối đe dọa của con người như chặt phá khai thác làm nương rẫy, mở đường. Hiện nay những đề tài về đa dạng sinh học và cấu trúc rừng tại khu vực vẫn còn khá ít và cũ chưa cập nhật hiện trạng rừng thường xuyên, tính đa dạng sinh học, mật độ vẫn còn hạn chế.
Xuất phát từ vấn đề thực tế trên, áp dụng những kiến thức đã được học, trong khuôn khổ của một tốt nghiệp cuối khóa, được sự phân công của Khoa Lâm nghiệp, Bộ môn Quản lý tài nguyên rừng, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Minh Cảnh, đề tài: “Đặc điểm cấu trúc và đa dạng loài cây gỗ ở rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu tại Vườn Quốc gia Bidoup — Núi Bà, Tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích đặc điểm cấu trúc, kết cấu loài cây gỗ đối với những quan xã thực vật thuộc kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu tại khu vực nghiên cứu. - Phân tích đa dạng của thực vật thân gỗ đối với quần xã thực vật kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu tại khu vực nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là quần xã thực vật thuộc kiểu rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu tại khu vực nghiên cứu. Trạng thái rừng nghiên cứu là rừng giàu (có trữ lượng từ trên 200 m”/ha đến 300 mỶ/ha) dựa theo Thông tư số 33/2018/TT — BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định chỉ tiết về nội dung phương pháp, quy trình điều tra, kiểm kê rừng và theo dõi diễn biến rừng. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu lâm phận rừng giàu thuộc tiểu khu của VQG Bidoup — Núi Bà, Tinh Lâm Đồng.
Đề tài này nghiên cứu đối tượng là cây thân gỗ, không nghiên cứu loại như cây bụi, dây leo và loài khác. Chương 2 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 2. Tống quan van đề nghiên cứu 2.1 Khái niệm về thảm thực vật rừng Thảm thực vật là lớp phủ được tạo thành bởi các loài thực vật ở một vùng cụ thể nào đó hay toàn bộ bề mặt của trái đất. Khái niệm về thảm thực vật được Hội nghị Quốc tế ngành sinh học lần thứ 6 tổ chức tại Paris thông qua (1954): thảm thực vật là những tập thể cây cỏ lớn đem lại một hình dáng đặc biệt cho phong cảnh do sự tập hop của những cây cỏ khác loài nhưng cùng chung một dạng sống ưu thé (Schminthusen, 1976).
Thanh phan chủ yếu của thảm thực vật là cây cỏ, những đối tượng nghiên cứu về thảm thực vật là tập thé cây cối hình thành do một số lượng những cá thé của các loài thực vật tập hợp lại 2.1 Tình hình nghiên cứu thảm thực vật rừng trên thế giới Ở vùng nhiệt đới có lẽ Schimper (1918) là người đầu tiên đưa ra hệ thống phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới. Trong hệ thống này, Schimper đã phân chia thảm thực vật thành quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng và quần hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu lại được phân chia thành 4 kiểu: Rừng thưa, rừng gió mùa, rừng trảng, rừng gai, ngoài ra còn có thêm 2 kiểu là thảo nguyên nhiệt đới và hoang mạc nhiệt đới. Năm 1903, dựa trên dạng sống của các cá thể thực vật chiếm ưu thế trong quan thé, Schimper đã phân chia 3 kiểu quần hệ là quan thụ, quần thảo và hoang mạc.
Trong ba kiểu quần hệ nói trên, có thể phân biệt được những loại hình quần thể nhỏ hơn: đó là những kiểu thảm thực vật (Vegetation types). Tác giả đã xếp những quan hệ thé nhưỡng ngang hàng với quần hệ khí hậu, mà không thấy được những quan hệ vùng núi cũng là những kiểu khí hậu của thảm thực vật, cũng do tác động của hai nhân tố sinh thái khí hậu là nhiệt độ, mưa 4m. Mặt khác tác giả chỉ chú ý một cách đơn giản đến lượng mua hang năm dé phân biệt các kiểu quan thé khí hậu, nhưng ở vùng nhiệt đới gió mùa thường có gió bão nên có những biến động lon. UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo cau trúc và được thê hiện trên bản đồ 1:2.
Day là khung phân loại được sử dụng phổ biến hiện nay phục vụ cho công tác bảo tồn trên toàn thế giới và đã được Phan Kế Lộc (1985), Nguyễn Nghĩa Thìn (1997, 2004, 2005) áp dụng. Hệ thống đó được sắp xếp như sau: 1. Lớp quần hệ (Formation class). Phân lớp quần hệ (Formation subclass).Nhom quan hé (Formation group).
Phân quan hệ (Subformation). Theo hệ thống phân loại này, thì thảm thực vật thé giới có 5 lớp quan hệ 1a: 1. Lớp quần hệ rừng kín. Lớp quần hệ rừng thưa.
Lớp quần hệ cây bụi. Lớp quần hệ cây bụi lùn và các quần xã có liên quan. Lớp quan hệ trang cỏ. Phần lớn các nhà khoa học trên thế giới như Braun - Blauquet, Pavilard (Pháp); Durietz, Rubel (Scandinavi); Weaver, Clement (Anh); Waher (Đức); Shoo, Tuen (Hungari); Pavloxki (Balan); Sucasov, Lavrenko (Nga).
déu nhat tri cho rang đối tượng nghiên cứu cơ bản của thảm thực vật là những quần thể thực vật. Theo quan điểm quan thé thì thảm thực vật bao gồm những đơn vị cụ thé có hình dang, cau trúc, thành phan, ranh giới, trạng mùa, động thái, vùng phần bó. đều dựa trên cơ sở sinh thái học và địa lý thực vật học (Đỗ Khắc Hùng, 2014). Ở Phan Lan, Caiande A., chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi.
Ông cho rang, trong lâm phan thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của lâm phan. Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất dé xem xét tính đồng nhất sinh học của môi trường, kể cả tính đồng nhất về hiệu qua của thực vật rừng. Tuy thế, điều này đã không hoàn toàn đúng vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thị nhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài như: lửa rừng, khai thac,.
cũng ảnh hưởng lên thảm tươi (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004). Tình hình nghiên cứu thảm thực vật rừng ở Việt Nam Trước năm 1960 các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu được thực hiện bởi các nhà khoa học người nước ngoài như: Chevalier (1918), Maurand (1943), Dương Ham Hy (1956), Rollet, Ly Văn Hội và Neay Sam Oil (1958). Từ năm 1960, Loschau đưa ra một hệ thống phân loại rừng theo trạng thái ở Quảng Ninh (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004). Hệ thống này đã phân chia thảm thực vật nước ta thành 4 loại hình lớn như sau: - Loại I: Gồm những dat đai hoang troc, trang cỏ và cây bụi.
- Loại II: Gồm những rừng non mới mọc. - Loại III: Gồm tat cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ. - Loại IV: Rừng nguyên sinh chưa bị khai phá. Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng khá rộng rãi ở nước ta trong việc điều tra tái sinh rừng cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái.
Viện Điều tra Quy hoạch rừng đã áp dụng hệ thống này vào việc phân loại trạng thái rừng phục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng. Trên quan điểm sinh thái phát sinh, Thái Văn Trừng (1978, 1999) đã xây dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Trong hệ thống này, tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vật hiện có ở Việt Nam vào một khung hợp lý, quy định được trật tự trước sau giữa các nhân tố sinh thái, đồng thời lại theo một trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu xấu nhất. Đây là một công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái.
Tuy nhiên theo tác giả thì bảng phân loại này thuộc loại đặc biệt hay mang tính chất địa phương của một vùng hay một khu vực.