chương 1 đã trình bày rõ kết cấu của khóa luận là 5 chương. Những nội dung trên sẽ là cơ sở quan trọng để triển khai nghiên cứu những nội dung tiếp theo của khóa luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.1 Khái niệm về sự ổn định tài chính của ngân hàng thương mại Từ sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu vào năm 2008 và những hậu quả mà nó để lại, các nhà hoạch định chính sách và học giả trên thế giới mới thực sự chú ý đến sự ổn định tài chính. Những hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính đã thay đổi xu hướng phát triển chiến lược của chính phủ các nước, sự tập trung vào rủi ro hệ thống và ổn định tài chính cũng được gia tăng.
Tuy nhiên, chưa có định nghĩa nào về ổn định tài chính được chấp nhận rộng rãi và nó đã tạo ra hai chiều hướng nghiên cứu, thứ nhất là nghiên cứu sự ổn định tài chính và thứ hai là nghiên cứu sự bất ổn định tài chính (Yasa và c. Crockett (1997) là nhóm các nhà kinh tế học đầu tiên đã tìm hiểu về sự ổn định tài chính. Nhóm tác giả cho rằng ổn định tài chính tồn tại khi hệ thống tài chính hoạt động mà không cần sự trợ giúp từ bên ngoài, không có những sự căng thẳng có khả năng gây ra thiệt hại kinh tế, không có biến động giá của các tài sản tài chính. Để giữ sự ổn định, các TCTC chủ chốt phải ổn định, nghĩa là họ có khả năng đáp ứng được các nhu cầu của nền kinh tế mà không bị gián đoạn hoặc nhận sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Schinasi (2006) cũng nghiên cứu về sự ổn định tài chính. Tác giả định nghĩa về ổn định tài chính là khi hệ thống tài chính thực hiện đồng thời ba chức năng: một là tạo điều kiện thuận lợi và hiệu quả cho việc phân bổ nguồn lực theo thời gian; hai là đánh giá được rủi ro tài chính trong tương lai, định giá hợp lý và chính xác; ba là có khả năng hấp thụ tốt những cú sốc và bất ngờ về tài chính. Akongdit (2019) đã thống nhất định nghĩa chung về ổn định tài chính dựa trên 4 yếu tố chính: thứ nhất là sự ổn định tài chính không chỉ ở một tổ chức cá nhân mà còn có sự liên kết giữa nhiều tổ chức tài chính với nhau. Bởi vì hệ thống tài chính là một tập hợp bao gồm hệ thống tiền tệ, các quy tắc, thể chế của hoạt động tài chính tư nhân.
Chúng có mối liên kết chặt chẽ với nhau, nếu có sự xáo trộn ở bất kỳ thành 9 phần riêng lẻ nào cũng sẽ làm suy yếu sự ổn định chung. Thứ hai, sự ổn định tài chính không chỉ ở khía cạnh không xảy ra khủng hoảng tài chính mà hệ thống tài chính phải có khả năng hạn chế và giải quyết tình trạng mất cân bằng trước khi nó trở thành mối đe dọa đến sự ổn định tài chính. Thứ ba, sự ổn định tài chính không chỉ hàm ý rằng hệ thống tài chính thực hiện đầy đủ các vai trò như phân bổ nguồn lực, rủi ro, huy động vốn, … mà nó còn yêu cầu hệ thống hoạt động trơn tru. Cuối cùng, sự ổn định tài chính liên quan đến cả sự an toàn và vững chắc của một quốc gia, đặc biệt là khuôn khổ thể chế và các biện pháp an toàn vĩ mô.
Ngân hàng trung ương Pháp coi đảm bảo sự ổn định tài chính nghĩa là duy trì một hệ thống tài chính vững mạnh, theo quan điểm của ngân hàng trung ương Pháp. Các định chế tài chính hoạt động hiệu quả kể cả trong khủng hoảng (Banque de France, 2021). Cục dự trữ Liên bang Mỹ định nghĩa một hệ thống tài chính được xem là ổn định khi các định chế tài chính có thể cung cấp nguồn tài chính ổn định cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp để họ đầu tư và phát triển trước những chuyển biến của nền kinh tế, đồng thời có thể chống chọi trước những cú sốc trong nền kinh tế của một quốc gia (Federal Reserve System, 2021). Ngân hàng trung ương Anh cho rằng ổn định tài chính là khi hệ thống tài chính thực hiện các vai trò cơ bản (thanh toán, tiết kiệm, cho vay, quản trị rủi ro, …) ngay cả khi nền kinh tế trở nên khó khăn, cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho các hộ gia đình và doanh nghiệp trong mọi thời điểm của nền kinh tế (Bank of England, 2022).
Ngân hàng trung ương Châu Âu cũng đưa ra định nghĩa về ổn định tài chính là khi hệ thống tài chính có khả năng chống chọi trước những cú sốc mà không bị gián đoạn và tháo gỡ tình trạng mất cân đối tài chính (European Central Bank, 2022) Ngân hàng trung ương Úc cho rằng một hệ thống tài chính ổn định là khi các TCTC, thị trường và cơ sở hạ tầng thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho dòng tiền chảy trơn tru giữa người tiết kiệm và nhà đầu tư (Reserve Bank of Australia). Gulmira (2023) coi sự ổn định tài chính là khả năng các TCTC, thị trường và cơ sở hạ tầng thị trường đồng thời chịu được những cú sốc, sự mất cân bằng và giảm 10 thiểu xác suất thất bại trong việc thực hiện chức năng trung gian tài chính. Hệ thống tài chính được xem là ổn định khi không có sự suy giảm đột ngột trong hoạt động của các ngân hàng, TCTC, thị trường tài chính và các hộ gia đình, các thực thể kinh doanh, luôn đảm bảo cung ứng đầy đủ nguồn vốn cho các chủ thể của nền kinh tế. Ngoài ra, thông tin minh bạch đóng vai trò quan trọng trong việc củng cố mức độ ổn định cho các định chế tài chính.
Tình trạng bất cân xứng thông tin có thể gây ra những vấn đề như: lựa chọn ngược hay lựa chọn bất lợi, rủi ro đạo đức hay tâm lý ỷ lại, vấn đề người ủy quyền. Các tổ chức muốn hoạt động hiệu quả và ổn định thì cần giảm tình trạng bất cân xứng thông tin này. Từ quan điểm của các ngân hàng trung ương trên thế giới và một số nhà nghiên cứu, có thể hiểu ổn định tài chính là khi các ngân hàng có thể vận hành một cách trơn tru mà không bị tác động bởi tác nhân nào, vững vàng trước những cú sốc bất ngờ của nền kinh tế. Ngoài ra, ngân hàng có thể vận hành tốt chức năng trung gian thanh toán và các chức năng cơ bản khác, luân chuyển dòng vốn một cách hiệu quả.
Những cú sốc thường xuất phát từ môi trường bên ngoài, các nhân tố vĩ mô, sự thay đổi môi trường thể chế, rò rỉ thông tin tiêu cực hay tác động từ chủ nợ và các con nợ của ngân hàng,… Bất kì một cú sốc nào cũng có thể dẫn đến nguy cơ sụp đổ, làm gián đoạn hoạt động của riêng ngân hàng và ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng.2 Đo lường sự ổn định tài chính của ngân hàng thương mại. Để đo lường mức độ ổn định của một TCTC, có nhiều phương pháp được đề xuất như: Một là đo lường thông qua khung CAMELS, dựa trên 6 yếu tố tài chính: C – Capital adequacy: khả năng tự cân đối vốn; A – Asset quality: chất lượng tài sản; M – Management: quản lý; E – Earnings: lợi nhuận; L – Liquidity: khả năng thanh khoản; S – Sensitivity to Market risk: độ nhạy cảm rủi ro đối với thị trường. Hai là đo lường thông qua bộ chỉ số lành mạnh tài chính (Financial Soundness Indicators – FSIs) của IMF với 52 chỉ tiêu chia làm 2 nhóm. Nhóm đầu tiên là nhóm chỉ số cơ bản, đo lường mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng, gồm 17 chỉ tiêu.
11 Nhóm thứ hai là nhóm chỉ số bổ sung đo lường thêm một số khía cạnh khác của hệ thống ngân hàng, các TCTC phi ngân hàng, …, gồm 35 chỉ tiêu. Ba là đo lường thông qua chỉ số Z – score. Đây cũng là phương pháp được sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước, như là Čihák & Hesse (2010); Hsieh và c. (2013) và Adem (2022) Hệ số nguy cơ phá sản của Edward I.
Altman giúp các nhà đầu tư xem xét, đánh giá nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần, được ký hiệu là Zscore. Altman (1968) đã sử dụng phương pháp Multiple Discriminant Analysis – MDA (phân tích phân biệt đa biến), từ 22 biến số được lựa chọn ban đầu, 5 biến được chọn để đánh giá và dự đoán tốt nhất khả năng phá sản của doanh nghiệp, đó là X1 – vốn lưu động/ tổng tài sản; X2 – lợi nhuận giữ lại/ tổng tài sản; X3 – lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ tổng tài sản; X4 – (giá thị trường của cổ phiếu* số lượng cổ phiếu đang lưu hành)/ tổng nợ; X5 – doanh thu/ tổng tài sản. Dựa trên nghiên cứu của Altman, đã có nhiều nghiên cứu sử dụng chỉ số Z – score để đánh giá rủi ro vỡ nợ của nhiều ngành nghề khác nhau. Trong lĩnh vực ngân hàng, mức độ ổn định tài chính được lượng hóa thông qua chỉ số Z – score như sau: 𝐑𝐎𝐀 𝐢,𝐭 + 𝐄/𝐀𝐢,𝐭 𝐙 − 𝐬𝐜𝐨𝐫𝐞𝐢,𝐭 = (𝟐.
𝟏) 𝛔𝐑𝐎𝐀𝐢,𝐭 Trong đó: ROA: lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân E/A: vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản σROA: độ lệch chuẩn của ROA Khi Z – score càng cao tức các ngân hàng có nhiều nguồn lực bao gồm lợi nhuận và vốn để hấp thụ các cú sốc và đối phó các biến động trong hoạt động kinh doanh tốt hơn. Z – score càng lớn thì xác suất phá sản của các ngân hàng càng thấp, sự ổn định tài chính của các ngân hàng càng tăng Ý nghĩa của chỉ số Z – score: sự ổn định của các ngân hàng sẽ gia tăng khi có chỉ số Z – score lớn, xác suất mất khả năng thanh toán là thấp và rủi ro tổng thể của 12 ngân hàng càng thấp. Khi thực hiện tính toán các biến số, dữ liệu được thu thập hoàn toàn từ báo cáo tài chính của các ngân hàng, khó tránh khỏi gian lận trong báo cáo tài chính dẫn đến kết quả đánh giá sự ổn định của một TCTC sai lệch so với tình trạng hiện tại. Ngược lại, ưu điểm của chỉ số này là áp dụng được đối với những định chế tài chính phức tạp, và cho phép so sánh giữa các TCTC khác nhau về mục tiêu kinh doanh, cấu trúc vốn.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐA DẠNG HÓA THU NHẬP CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.