Đặt vấn đề Các NHTMCP đóng một vai trò rất lớn trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu tín dụng của các đối tượng và thành phần kinh tế nhằm tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế xã hội của quốc gia (Buyuran và Ekşi, 2021). Tại Việt Nam, các NHTMCP ngoài là các tổ chức tài chính thì các ngân hàng đóng vai trò là chủ thể mà NHNN sử dụng để thực hiện các chính sách tiền tệ và đòn bẩy cho toàn bộ nền kinh tế vận hành. Mặt khác, các NHTMCP ngoài các sứ mệnh cho kinh tế xã hội thì các tổ chức còn thực hiện lợi ích của mình trong hoạt động kinh doanh, hiện nay việc mở cửa hội nhập nền kinh tế nói chung và trong lĩnh vực ngân hàng nói riêng hiện nay cho phép các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước được hoạt động, cạnh tranh trong môi trường công bằng và bình đẳng. Bên cạnh đó cũng tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại trong nước có cơ hội mở rộng kinh doanh và phát triển ra thị trường nước ngoài.
Hội nhập đem lại cho ngành ngân hàng Việt Nam những cơ hội cũng như thách thức để phát triển bền vững đòi hỏi các ngân hàng trong nước phải có những chiến lược định hướng kinh doanh đúng đắn và việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ một trong những hướng đi giúp các ngân hàng thương mại nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 một trong những nội dung cơ cấu lại được đề cập là “Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng”. Đây là cơ sở để các NHTM Việt Nam đang ngày càng chú trọng hơn đến các hoạt động tạo thu nhập ngoài lãi, đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh, sản phẩm dịch vụ trong bối cảnh hoạt động tín dụng có quá nhiều rủi ro, nguồn thu từ tín dụng chưa thật sự ổn định. Nếu theo nghiệp vụ truyền thống và cổ điển, ngân hàng thu lợi nhuận chủ yếu từ hoạt động tín dụng; nhưng tín dụng lại chứa đựng nhiều rủi ro và bất trắc, do ngân hàng ở vào thế bị động khi cấp tín dụng cho khách hàng.
Số liệu từ báo cáo tài chính của hàng loạt ngân hàng chỉ ra một thực tế rằng, thu nhập của các NHTM Việt Nam chủ yếu thu lãi từ hoạt động tín dụng chiếm khoảng 75% trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng 2 (Tạp chí tài chính, 2018). Thực tế trong thời điểm khủng hoảng kinh tế, đã có quá nhiều NHTM trên thế giới bị phá sản vì đầu tư, mà không thu hồi được nợ. Chỉ với tỷ lệ nợ khó đòi vượt quá mức cho phép từ 4-5% tổng dư nợ cũng đã làm cho các NHTM không còn lợi nhuận và mất dần vốn tự có. Đối với các NHTM trên thế giới hoạt động tín dụng chỉ mang lại 2/3 thu nhập, còn tại Việt Nam nó tạo ra đến khoảng 90% thu nhập cho các NHTM nên mức độ tập trung rủi ro còn cao hơn nữa; các NHTM tại Việt Nam rất cần có động thái chuyển đổi, giảm bớt tỷ trọng hoạt động tín dụng, tăng cường các hoạt động khác để phân tán, giảm thiểu rủi ro.
Không những thế, môi trường cạnh tranh trong ngành ngân hàng Việt Nam ngày càng gay gắt không chỉ cạnh tranh giữa các NHTM trong nước mà còn cạnh tranh với các NHTM nước ngoài. Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, sự ra đời của các công ty công nghệ tài chính (Fintech) đòi hỏi ngân hàng phải có sự thay đổi trong hoạt động của mình đòi hỏi ngân hàng, TCTD nào muốn tồn tại, muốn phát triển, đạt được lợi nhuận cao và tạo vị thế của mình trong cạnh tranh đều phải thay đổi, cải tiến hoạt động sao cho đáp ứng kịp thời, thuận tiện các nhu cầu đòi hỏi phong phú, đa dạng khách hàng để thu hút được nhiều khách hàng hơn. Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1058/QĐ- TTg ngày 19/7/2017 mà các NHTM Việt Nam đã và đang thực hiện nhằm đa dạng hóa thu nhập cho ngân hàng. Có thể kể đến trong thời gian gần đây, các Ngân hàng Thương mại (NHTM) đã mở rộng hoạt động ra các lĩnh vực bảo hiểm, đầu tư trái phiếu, ngoại hối và các lĩnh vực khác để ĐDHTN.
Tuy nhiên, việc mở rộng hoạt động phi truyền thống cũng đồng nghĩa với việc đối mặt với những tác động lớn đến rủi ro của các NHTM. Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để đánh giá tác động của ĐDHTN đến rủi ro của NHTM. Kết quả của các nghiên cứu này vẫn chưa thống nhất và đôi khi khác nhau rất nhiều. Acharya và cộng sự (2002) cho rằng ĐDHTN có thể làm giảm lợi nhuận và tăng rủi ro của NH, trong khi đó nghiên cứu của Sharma và Anand (2018); Buyuran và Ekşi (2021) lại cho thấy ĐDHTN có tác động tích cực đến khả năng sinh lời, giúp tăng lợi nhuận và giảm rủi ro.
Do đó, để giải quyết vấn đề cần làm rõ này, tác giả lựa chọn đề tài: "Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro 3 của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam" để tìm ra câu trả lời cho các NHTMCP Việt Nam quan tâm đến vấn đề này.2 Tính cấp thiết của đề tài Trên thế giới, quá trình tự do hóa tài chính bắt đầu từ những năm 1970 và ngày càng được chấp nhận rộng rãi. Bên cạnh thu nhập truyền thống từ lãi, các ngân hàng đã và đang kiếm thêm những nguồn thu nhập mới từ môi giới, tư vấn doanh nghiệp, đồng tài trợ, quản lý danh mục đầu tư, chuyển tiền, bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản. Trong ba thập kỷ vừa qua, nguồn thu nhập từ lãi có xu hướng suy giảm và thu nhập ngoài lãi có xu hướng tăng lên ở Mỹ, Canada và châu Âu. Hơn mười năm nay, các ngân hàng thương mại trên thế giới đã thực hiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh xuất phát từ áp lực cạnh tranh và sự hấp dẫn của lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư tài chính.
Trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu ngày nay, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam vừa có cơ hội nhưng cũng có những thách thức, để tồn tại và phát triển các tổ chức tín dụng phải tìm được hướng phát triển phù hợp với bản thân mình mà một trong các chiến lược phát triển của các ngân hàng thương mại là chiến lược đa dạng hóa như đa dạng về sản phẩm dịch vụ, về loại khách hàng hoặc về hoạt động kinh doanh để tạo ra thu nhập hoặc kết hợp nhiều yếu tố với nhau. Theo lý thuyết danh mục đầu tư thì đa dạng hóa tốt sẽ đem lại lợi ích cho nhà đầu tư nhưng theo lý thuyết của thương mại quốc tế thì chuyên môn hóa cũng sẽ đem lại lợi ích. Đa dạng hóa trong các tổ chức rất đa dạng theo Mercieca và cộng sự (2006) thì có ba khía cạnh: (a) Đa dạng các sản phẩm tài chính và dịch vụ; (b) đa dạng về địa lý; (c) một sự kết hợp giữa đa dạng hóa về địa lý và kinh doanh. Các ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần phải xác định được lĩnh vực nào mình nên đa dạng hóa và lĩnh vực nào nên chuyên môn hóa để có thể đem lại lợi ích cho tổ chức tín dụng.
Để có thể gia tăng cạnh tranh với các ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng khác thì đa dạng hóa thu nhập là tất yếu đối với các ngân hàng thương mại vì hai lý do chính: (1) nâng cao giá trị gia tăng cho khách hàng, cung cấp các dịch vụ kèm theo bên cạnh dịch vụ nhận tiền gửi và cho vay để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng; (2) lợi ích đem lại từ thu nhập ngoài lãi so với thu nhập từ lãi khá lớn do muốn tăng lên thu nhập từ lãi ta phải tăng các khoản vay do 4 đó làm tăng lên rủi ro tín dụng và các yêu cầu về quản trị rủi ro và vốn kèm theo làm gia tăng thêm chi phí tương ứng, còn thu nhập ngoài lãi tăng lên phụ thuộc vào số lượng dịch vụ được sử dụng tăng lên trong khi chi phí chủ yếu dựa vào đầu tư công nghệ ban đầu. Với việc mở rộng các hoạt động phi truyền thống, các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể cạnh tranh trên phân khúc thị trường rộng hơn, thu nhập từ nhiều nguồn hơn và cao hơn. Đa dạng hóa thu nhập đang dần trở thành một chiến lược quan trọng đối với các NHTM cũng như các tổ chức tài chính. Số liệu từ báo cáo tài chính của hàng loạt ngân hàng chỉ ra một thực tế rằng, thu nhập của các NHTM tại Việt Nam vẫn đang phụ thuộc chủ yếu vào thu lãi từ hoạt động tín dụng, trong khi thu nhập ngoài lãi chỉ đóng góp dưới 25% tổng thu nhập hoạt động.
Điều này chứng tỏ, mảng dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam còn khá mờ nhạt, quy mô dịch vụ nhỏ, sức cạnh tranh còn hạn chế. Những hoạt động ngân hàng phi truyền thống được phát triển sẽ kéo theo sự gia tăng lợi nhuận nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro cho các NHTM Việt Nam trong giai đoạn hội nhập tài chính sâu rộng như hiện nay. Luận văn này sẽ phân tích khía cạnh về đa dạng hóa trong thu nhập của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có thực sự đem lại lợi ích hay không, các tổ chức tín dụng tại Việt Nam có nên đa dạng hóa hoạt động để có thêm nguồn thu nhập khác ngoài lãi không? Mercieca và cộng sự (2006) đã nghiên cứu ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập tới kết quả kinh doanh trên các ngân hàng nhỏ tại Châu Âu., (2016) đã thực hiện nghiên cứu trên mẫu số liệu của các nước Châu Phi ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập trên rủi ro và lợi nhuận. Ngoài ra, Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2015) cũng đã nghiên cứu trên các NHTM Việt Nam về ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập lên khả năng sinh lời; Xuân Vinh và Phương Mai nghiên cứu lợi nhuận và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro từ đa dạng hóa thu nhập của các NHTM Việt Nam.