Chương 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ SỰ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm NHTM Khi chúng ta nói đến khái niệm NHTM (NHTM), có vô số những định nghĩa khác nhau phụ thuộc vào từng quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, tóm gọn lại, tất cả khái niệm đó đều có điểm tương đồng là được định nghĩa theo phương thức hoạt động và chức năng.
Dương Chí Dũng (2020), Ngân hàng thương mại và vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường đưa ra một số những khái niệm về NHTM trên thế giới: Tại Mỹ: NHTM được định nghĩa là một TCTD và trung gian cung cấp nhiều DV cho KH bao gồm: giao dịch, thị trường tiền tệ và tài khoản tiết kiệm. Luật Ngân hàng Pháp (1941) quy định là “một xí nghiệp hay cở sở mà nghiệp vụ thường xuyên là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác hay dưới hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, Tín dụng và Dịch vụ tài chính”. Tại Thổ Nhĩ Kỳ: định nghĩa NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn được thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ chiết khấu và những hình thức vay mượn hay TD khác. Nguồn: Tại Việt Nam: Định nghĩa NHTM Căn cứ theo hình thức pháp lí: " NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận".
Dù ở mỗi quốc gia đều có một định nghĩa khác nhau về NHTM, tuy nhiên chung quy lại thì NHTM được hiểu là Một TCTD có khả năng thực hiện toàn bộ các DV tài chính NH vì mục tiêu LN. Đặc chưng của NHTM Có thể khái quát chức năng của NHTM trên 3 nội dung chính: Thứ nhất: Chức năng trung gian TD Trung gian TD là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, không chỉ đem đến bản chất của NHTM hơn nữa còn đưa ra chức năng chủ đạo của NHTM. Các NHTM đóng vai trò là "cầu nối" giữa người thừa vốn và người cần vốn, để khiến cho dòng chảy của vốn đi từ nơi dư thừa đến nơi cần. Thứ hai: Chức năng là trung gian thanh toán Chức năng thanh toán của NH được thể hiện từ việc thực hiện chi trả những khoản tiền đúng mục đích theo đề nghị từ phía KH thông qua hình thức trích từ tài khoản tiền gửi không kỳ hạn của KH để chi trả mọi khoản chi phí hợp lý hợp lệ… hoặc nhận những khoản tiền khác mà KH có.
NH hoạt động như một người thủ quỹ, giữ, nhận và chi trả tiền thay. Thứ ba: Chức năng tạo tiền cho nền KT Đây là chức năng vô cùng quan trọng, nó phản ảnh rõ được bản chất của NHTM. Với nhiệm vụ hàng đầu cho sự duy trì và phát triển là LN, các NHTM với việc kinh doanh đặc thù như vậy đã thực hiện chức năng tạo tiền cho nền KT. Chức năng này bắt nguồn từ chức năng thanh toán, chức năng TD của NH.
Từ những nguồn tiền dự trữ và qua việc cho vay mượn và chi trả bằng hình thức chuyển khoản thì tiền gửi được tạo ra ngày một lớn hơn gấp nhiều lần so với lượng dự trữ ban đầu, đây được coi là quá trình tạo tiền của hệ thống NH. Chính vì vậy mà khả năng tạo tiền được coi như một hệ quả bắt nguồn từ hai chức năng trên.3 Hoạt động kinh doanh của NHTM NHTM còn được gọi là NH ký thác với hoạt động chủ yếu là nhận tiền của công chúng, làm nghiệp vụ cho vay, chiết khấu trong việc kinh doanh các loại tiền tệ và các hoạt động khác trong mảng NH. Khác với BIDV và các TCTD khác. Hoạt động chủ yếu của NHTM là cho vay ngắn hạn đối với KH là cá nhân và DN bằng nguồn huy động tiền gửi là chính.
Tuy nhiên, đứng trước sự phát 11 triển liên tục của KT thị trường, dẫn đến những thay đổi lớn trong hoạt động của NHTM ngoài việc cho vay ngắn hạn, còn cho vay đầu tư trung và dài hạn. Hoạt động Kinh doanh của NHTM thể hiện trên một số nội dung: - NHTM là TCTD chuyên kinh doanh trên mảng Tín dụng tiền tệ, trong đó chức năng cơ bản nhất là làm trung gian tín dụng giữa các DN, cá nhân trong nền KT. - NHTM là một tổ chức chuyên kinh doanh các loại tiền tệ và cung cấp các SPDV liên quan đến NH cho khác hàng. - NHTM là TCTD với hoạt động chủ yếu và thường xuyên là huy động vốn của KH và sử dụng nó với nhiều mục đích theo quy định của pháp luật.
Tóm lại, NHTM được hiểu là một định chế tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, thanh toán và cung cấp SPDV tiện ích NH khác trong thị trường tài chính. CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM 1. Quan niệm về cạnh tranh của NHTM Có không ít quan niệm về Cạnh tranh. Trong cuốn “Tư bản”, Các Mác đặt ra quan niệm của sự cạnh tranh tư bản như sau: “Canh tranh tư bản là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để đạt được Lợi nhuận siêu sạch”.
Theo liên hiệp quốc “Cạnh tranh là một quá trình Kinh tế mà trong đó các chủ thể Kinh tế ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật Kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt được mục tiêu Kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy Khách hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, sự cạnh tranh trong vấn đề kinh doanh được hiểu là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền KT thị trường, chi phối bởi quan hệ cung – cầu. Nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh 12 đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” [9, tr.
Tiếp cận lại của tác giả Trần Sửu từ gốc độ thị phần với quan niệm “cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hóa, DV)”, [30, tr. Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau nhưng khái quát lại, có thể thấy cạnh tranh bao gồm bốn nội dung chính: (1) cạnh tranh là sự lôi kéo thị trường tiêu thụ; (2) Tối đa hóa LN là mục đích trực tiếp của cạnh tranh; (3) cạnh tranh phải được tạo ra tại một môi trường nhất định, đảm bảo phải có sự tuân thủ từ tất cả các bên tham gia: sản phẩm, thị trường kinh doanh, pháp lý, các thông lệ kinh doanh và (4) Các đối tượng tham gia trong cạnh tranh có thể thông qua các cách khác nhau: đặc điểm và chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm (chính sách định giá thấp, cao, bình ổn giá, định giá theo thị trường, phân biệt giá), cách thức bán sản phẩm dựa vào các DV, thanh toán theo hình thức nào… Thống nhất các nội dung nêu trên, Có thể thấy rằng sự cạnh tranh là một sự ganh đua của nhiều đối tượng KT về nhiều loại hàng hóa, sản phẩm cụ thể bằng cách sử dụng các biện pháp giảm chi phí, tăng chất lượng, quảng cáo… nhằm hướng đến mục tiêu kinh doanh như chiếm lĩnh được thị trường, lôi kéo được các KH tiềm năng, nắm giữ điều kiện thuận lợi về SXKD… với mục tiêu cuối cùng là đem về LN lớn nhất. Từ quan niệm chung về cạnh tranh, có nhận định rằng, cạnh tranh trong hoạt động của NH là sự cạnh tranh từ các NHTM về khả năng tài chính, huy và cho vay, khả năng cung ứng các SPDV, khả năng điều hành và quản trị nguồn lực, trình độ công nghệ, khả năng nâng cao và phát triển thị phần với mục tiêu lôi kéo đa số KH với mức LN đạt được là cao nhất, qua đó khẳng định vị thế và vai trò trên thị trường. Hoạt động của NH là hình thức kinh doanh đặc biệt trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm đó là kinh doanh các tiền tệ và cung cấp Dịch vụ tín dụng ngân hàng.
Để có thể đủ khả năng để cạnh tranh một cách công khai và minh bạch, thì phải cần đến những công cụ như: Lãi suất, chất lượng SPDV, uy tín, văn 13 hóa kinh doanh… để thâu tóm phần lớn thị trường với mục tiêu đem về nhiều LN nhất có thể. Đặc điểm cạnh tranh của NHTM Trước khi đi vào đặc điểm cạnh tranh của NHTM, cần hiểu rõ đặc điểm cách tranh của các DN: - Về chủ thể cạnh tranh: gồm các pháp nhân, các tổ chức KT, cá thể, cá nhân. Các chủ thể cạnh tranh, không nhất thiết ở trong cùng ngành, lĩnh vực, lãnh thổ, cùng một thị trường… - Đối tượng cạnh tranh rất đa dạng: có thể là các yếu tố sản xuất (đất đai, lao động, vốn, công nghệ…) các hàng hóa DV đầu ra, KH, mức độ ảnh hưởng. Trong điều kiện nền KT tri thức, đối tượng cạnh tranh không đơn thuần chỉ là hàng hóa (đầu vào, đầu ra) mà còn là không gian sinh tồn, là thời gian.
Đối tượng cạnh tranh là tất cả những cái gì chung mà DN quan tâm và có tác động tới lợi ích của DN và sự phát triển và duy trì của các chủ thể KT. - Mục tiêu của cạnh tranh: Mục tiêu cuối cùng là thu về nhiều LN nhất có thể nhưng những mục tiêu trung gian thường gắn với các điều kiện SXKD như cạnh tranh để thu hút nguồn lực đầu vào, phát triển thị phần, nắm bắt tốt nhất công nghệ, huy động vốn… - Phương thức cạnh tranh: Rất đa dạng và thay đổi theo trình độ phát triển của chủ thể, của môi trường và các yếu tố cạnh tranh, phương thức cạnh tranh truyền thống là cạnh tranh qua giá. Ngày nay, xuất hiện nhiều hình thức cạnh tranh như cạnh tranh thông qua chất lượng, mẫu mã, tiện ích, bằng DV khuyến mại. - Sự biến đổi của cạnh tranh: cạnh tranh đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến độc quyền.
Trong quá trình cạnh tranh các chủ thể có tiềm năng cạnh tranh mạnh hơn sẽ thâu tóm các DN khác, tạo lập thế độc quyền nhằm thu LN siêu ngạch.