Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ khách hàng cá nhân Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín – Chi nhánh Thanh Trì Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Sài Gòn Thƣơng Tín – Chi nhánh Thanh Trì 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm về dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ đƣợc định nghĩa theo nhiều ý kiến khác nhau: Adam Smith đã cho rằng: "Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công.
Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". Qua đó, ông muốn nói đến đặc tính "không tồn trữ đƣợc" của dịch vụ, tức là quá trình sản xuất và tiêu thụ không tách rời nhau. Mác thì cho rằng: "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Nhƣ vậy, khái niệm trên cho thấy C.
Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, dịch vụ sẽ ngày càng phát triển mạnh cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Ngày nay xã hội hiện đại càng nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của dịch vụ trong nền kinh tế. Dịch vụ đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành học thuật khác từ văn học, luật học, kinh tế học đến khoa học quản lý…. Dịch vụ có thể đƣợc mô tả nhƣ là "bất cứ thứ gì bạn có thể mua và bán nhưng không thể đánh rơi nó xuống dưới chân bạn".
Trong kinh tế học, dịch vụ là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa nhƣng phi vật chất, đƣợc coi là một trong ba ngành kinh tế bên cạnh ngành nông nghiệp và công nghiệp. 8 Trong marketing, Philip Kotler định nghĩa“ Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” (Philip Kotler (2015), Marketing căn bản, Nxb Thống kê). Thông qua những khái niệm đƣợc đƣa ra từ nhiều lĩnh vực nêu trên, ta có thể tổng kết đƣợc khái niệm chung nhất về dịch vụ nhƣ sau: Dịch vụ là những hoạt động tạo ra các sản phẩm hàng hóa không tồn tại dƣới hình thái vật thể, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thoả mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con ngƣời.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Trong cuốn “Quản trị Ngân hàng Thƣơng Mại” của Peter S. Rose có đƣa ra khái niệm Ngân hàng nhƣ sau: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “Bách hóa tài chính””. Bên cạnh thị trƣờng chứng khoán, thị trƣờng bảo hiểm thì với vai trò là một trong 3 bộ phận cấu thành nên thị trƣờng tài chính, hệ thống ngân hàng hiện nay đang góp phần quan trọng trọng việc đáp ứng đa dạng các nhu cầu tài chính cho tất cả các đối tƣợng, thành phần kinh tế.
Ngân hàng ngoài những dịch vụ truyền thống nhƣ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán thì theo xu thế phát triển của kinh tế, các dịch vụ ngân hàng ngày càng phát sinh phong phú nhƣ: tƣ vấn tài chính, bảo lãnh và cam kết, môi giới và kinh doanh tiền tệ, quản lý tài sản và danh mục đầu tƣ, … 9 Từ đó, dù chƣa có một định nghĩa cụ thể nào về dịch vụ ngân hàng nhƣng ta có thể đƣa ra khái niệm chung về dịch vụ ngân hàng nhƣ sau:“Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, được ngân hàng cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Khái niệm về dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Dịch vụ KHCN là một phần trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ, tập trung vào đối tƣợng cá nhân riêng lẻ và hộ gia đình thông qua hệ thống chi nhánh hoặc khách hàng có thể sử dụng dịch vụ thông qua các phƣơng tiện CNTT. Cũng có thể hiểu dịch vụ khách hàng cá nhân của NHTM là những dịch vụ cung ứng những tiện ích ngân hàng đến tận tay ngƣời tiêu dùng. Đối tƣợng của dịch vụ KHCN do đó là vô cùng lớn bao gồm các cá nhân và hộ gia đình, phƣơng tiện gắn liền với công nghệ cao và cho phép phục vụ tại nơi, mọi lúc và đa mục đích, khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp thông qua các phƣơng tiện điện tử viễn thông và CNTT.
Một khách hàng sử dụng dịch vụ KHCN có thể một lúc sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng hiện đại. Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại 1. Đặc điểm cơ bản của dịch vụ Dịch vụ có một số đặc điểm cơ bản nhƣ sau: Tính vô hình : Dịch vụ chỉ có thể nhận thức đƣợc bằng sự cảm nhận về chất lƣợng, mức độ hài lòng sau khi sử dụng dịch vụ. Tính đồng thời :Quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời.
Dịch vụ không thể tích lũy dự trữ và kiểm nghiệm trƣớc đƣợc. Tính không đồng nhất: Chất lƣợng dịch vụ cung cấp cho mỗi khách hàng khác nhau có giá trị dịch vụ khác nhau vì nó phụ thuộc vào ngƣời cung ứng dịch vụ, thời gian, địa điểm cung ứng dịch vụ, tâm lý, nhu cầu của khách hàng. 10 Tính không thể dự trữ: Dịch vụ có tính chất không lƣu giữ đƣợc. Nếu vì một lý do nào đó mà ngƣời tiêu thụ dịch vụ không thể trực tiếp tiếp nhận dịch vụ đƣợc cung cấp thì dịch vụ đó không thể lƣu giữ để sử dụng sau.
Đặc điểm của dịch vụ khách hàng cá nhân trong ngân hàng thƣơng mại Số lượng khách hàng lớn: Do đối tƣợng khách hàng là cá nhân và hộ gia đình nên có đặc thù là số lƣợng rất lớn. Đây là đối tƣợng chiếm đa số trong cơ cấu khách hàng phổ biến của một ngân hàng thƣơng mại. Khách hàng đƣợc chia ra nhiều phân khúc theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, địa vị xã hội hay mức độ thân thiết… Với cùng một lƣợng đối tƣợng khách hàng nhƣng trên mỗi phân khúc, các ngân hàng có thể phát triển nhiều dịch vụ đa dạng để đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng nhóm đối tƣợng. Giá trị giao dịch nhỏ, mỗi giao dịch có chi phí bình quân cao: Những giao dịch của cá nhân thƣờng không mang giá trị lớn, mục đích chủ yếu cho nhu cầu cá nhân và gia đình nhƣ tiết kiệm, chi tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh nhỏ.
Tuy nhiên đặc thù của dịch vụ khách hàng dành cho cá nhân là yêu cầu mạng lƣới rộng khắp để có thể len lỏi tới từng ngóc ngách dân cƣ, đồng thời cần đầu tƣ vào phát triển CNTT hiện đại để đáp ứng nhanh chóng, thuận tiện những nhu cầu dù là nhỏ nhất của đối tƣợng cần phục vụ. Chi phí cho những yêu cầu trên là không hề nhỏ, mặc dù số lƣợng khách hàng cá nhân lớn tuy nhiên chi phí bình quân tính trên một khách hàng vẫn là tƣơng đối cao so với đối tƣợng khách hàng bán buôn. Dịch vụ KHCN có lợi thế theo quy mô và phạm vi: Điều này có nghĩa là quy mô càng lớn, số lƣợng khách hàng tham gia càng nhiều thì chi phí bình quân càng thấp, tạo lợi thế cho ngân hàng và cắt giảm chi phí. Tiến bộ công nghệ thông tin là ưu tiên và lợi thế cạnh tranh hàng đầu: Đặc thù của dịch vụ KHCN là đa dạng, tiện ích và hiện đại, đáp ứng hầu hết các nhu cầu tài chính của cá nhân từ gửi tiết kiệm, vay, thanh toán, 11 thẻ, … Hiện nay với kỹ thuật công nghệ hiện đại, chỉ cần một click chuột hay có trong tay điện thoại thông minh, khách hàng có thể gửi tiền, vay, thanh toán chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và rất nhiều các dịch vụ tiện ích khác một cách rất đơn giản.
Nắm bắt đƣợc nhu cầu đó, việc đầu tƣ cho công nghệ của ngân hàng hiện nay rất đƣợc chú trọng khi đời sống và dân trí đối tƣợng khách hàng này ngày càng cao, do đó đổi mới và sáng tạo là xu hƣớng tất yếu. Marketing đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển dịch vụ khách hàng cá nhân: Đối tƣợng KHCN rất nhạy cảm với các chính sách marketing nên họ dễ dàng chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân hàng khác khi không nhận thấy sự khác biệt và lợi ích gì trong sản phẩm dịch vụ mà mình đang sử dụng. Với đặc trƣng là tâm lý bầy đàn và đám đông, hình ảnh nhận diện và thƣơng hiệu cũng nhƣ những chính sách marketing của một ngân hàng có tác động rất lớn đến xu hƣớng sử dụng của đối tƣợng khách hàng này. Đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong ngành, việc marketing đúng cách sẽ giúp ngân hàng tạo đƣợc dấu ấn và thu hút sự lựa chọn dịch vụ từ đối tƣợng khách hàng.
Mức độ rủi ro thấp: Nếu so với khách hàng doanh nghiệp và định chế tài chính thì đối tƣợng khách hàng cá nhân với giá trị giao dịch không lớn sẽ giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Đồng thời doanh thu từ mảng khách hàng này khá ổn định và an toàn đối với ngân hàng. Các dịch vụ khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Dịch vụ nhận tiền gửi Tiền gửi thanh toán Đây là hình thức huy động vốn thông qua việc mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng.
Tài khoản thanh toán có chức năng phục vụ nhu cầu thanh toán, nộp rút tiền mặt, chuyển khoản cho khách hàng với đặc tính là 12 luồng tiền ra vào một cách linh hoạt.