CHƯƠNG 1 CHẤT LƯỢNG DỊCH v ụ NGÂN HÀNG BÁN LẺ VÀ s ứ c CẠNH TRANH VÈ CHẤT LƯỢNG DỊCH v ụ NGÂN HÀNG BÁN LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về chất lượng dịch vụ NHBL 1. Những vấn đề chung về dịch vụ ngân hàng 1. Khái quát về dịch vụ Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đôi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực và ở câp độ khác nhau.
Dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng thông qua việc tạo ra giá trị đóng góp cho nền kinh tế của quốc gia. Nhận ra tầm quan trọng của dịch vụ, các nhà nghiên cứu đã tập chung nghiên cứu về lĩnh vực này từ đầu thập niên 1980 và đã có nhiều khái niệm, định nehĩa về dịch vụ được đưa ra. Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất. Theo quan điểm kinh tê học, bản chât của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ.và mang lại lợi nhuận.
Các Mác cho ràng: “Dịch vụ là con đẻ của nền sản suất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển.” “Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia chủ yếu là không sờ thấy được và không dẫn đến việc chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ cỏ thể có và cũng có thể không liên quan đên hàng hóa dưới dạng vật chất của nó” [10,tr362]. Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ được phát biểu dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì: 5 Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hoá nhưng nỏ phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Hay, dịch vụ là một quả trình bao gồm một loạt các hoạt động ít hay nhiều là vô hình mà các hoạt động này thường xảy ra trong quả trình giao dịch giữa khách hàng và người cung ứng. dịch vụ và/hoặc các sản phẩm hữu hình, và/hoặc hệ thống của người cung ứng dịch vụ mà được xem là giải pháp cho các vấn đề của khách hàng. Dịch vụ bao gồm 3 bộ phận họp thành: -Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ. -Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ căn bản và làm tăng giá trị của dịch vụ căn bản.
-Dịch vụ toàn bộ bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ. *Phân loại dịch vụ Các loại dịch vụ bao gồm: Con người Vật chất Dịch vụ liên quan đến thể Dịch vụ liên quan đến chất cong ngưòi: hàng hóa và các vật chất - Chăm sóc sức khỏe khác: Hành động - Vận chuyển hành khách - Vận chuyển hàng hóa hữu hình - Chăm sóc sắc đẹp - Bảo trì và sửa chữa thiết - Nhà hàng bị công nghiệp - Chăm sóc vườn, cây cảnh, vật nuôi. Dịch vụ liên quan đến trí Dịch vụ liên quan đến tài tuệ con người: sản vô hình: - Giáo dục - Ngân hàng Hành động - Truyền hình - Tư vấn pháp luật vô hình - Thông tin - Kế toán - Nhà hát - Bảo vệ an ninh - Nhà bảo tàng - Bảo hiểm 6 Hoặc có thể phân loại theo các tiêu thức cụ thể sau: -Phân loại theo chủ thể thực hiện dịch vụ: + Chủ thể nhà nứớc: Thực hiện các dịch vụ công cộng nhu bệnh viện, trường học, tòa án, cảnh sát, cứu hỏa, bưu điện, hành chính, pháp lý,. +Chủ thể là các tổ chức xã hội như hoạt động của tổ chức từ thiện.
+Chủ thể là. các đon vị kinh doanh: thực hiện các dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, hàng không, công ty tư vẩn pháp luật,. -Theo muc đích: Có các dịch vụ phi lợi nhuận và vì mục đích lợi nhuận. - Theo nội dung: Dịch vụ nhà hàng khách sạn, dịch vụ giao thông liên lạc, dịch vụ sức khỏe, phục vụ công cộng, thương mại, tài chính ngân hàng, tư vẩn, giáo dục,.
-Theo mức độ tiêu chuẩn hóa dịch vụ có khả năng tiêu chuẩn hóa cao: +Khối lượng cung cấp dịch vụ lớn, chỉ tập chung vào một số khía cạnh phục vụ nhất định, công việc lặp đi lặp lại, có khả năng cơ giới hóa hoặc tự động hóa, yêu cầu nhân viên có tay nghề không cao, hạn chế tính tự do linh hoạt, sáng tạo của nhân viên,. +Dịch vụ theo yêu cầu: Khối lượng cung cấp dịch vụ nhỏ, quá trình dịch vụ khó định nghĩa trước, yêu cầu nhân viên có tay nghề chuyên môn cao, có tính sang tạo và tự chủ trong công việc. 7 *Đặc điểm dịch vụ Đặc điểm của Đặc điểm của Hàm ỷ đổi với dịch vụ hàng hóa dịch vụ - Dịch vụ không lưu kho được Hữu hình. Vô hình - Dịch vụ không được cấp bản quyền - Dịch vụ không được trưng bày sẵn - Chất lượng dịch vụ cung ứng và sự thỏa mãn của khách hàng tùy thuộc vào hành động của nhân viên Được tiêu Không đồng - Chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào nhiều yếu chuẩn hóa nhất tố không kiểm soát được - Không có gì đảm bảo dịch vụ cung ứng đến khách hàng khớp với những gì đã lên kế hoạch và quảng bá.
Qua trình sản Đồng thời - Khách hàng tham gia vào và ảnh hưởng xuất tách rời quá vừa sản xuất đến tiến trình giao tiếp trình tiêu thụ vừa tiêu thụ - Khách hàng này gây ảnh hưởng đến khách hàng khác - Nhân viên phục vụ ảnh hưởng đến kết quả của dịch vụ - Sản xuất đại trà rất khó - Làm đúng ngay từ đầu Không dễ hỏng De hỏng - Khó đồng nhất hóa về cung, cầu đối với dịch vụ -Dịch vụ không thể hoàn trả lại hoặc tái bán 8 *Quá trình quyết định mua dịch vụ của khách hàng - Trước khi mua dịch vụ: nhận diện nhu cầu -»tìm kiếm thông tin -»Đánh giá các lựa chọn -»Lựa chọn mua dịch vụ dự kiến - Thời điểm mua dịch vụ: Mua dịch vụ -»Sử dụng dịch vụ đó (tiêu thụ). - Hành vi sau khi mua dịch vụ: Đánh giá dịch vụ sau khi mua ->Lập lại hành vi mua -»Sự trung thành của khách hàng -»Lời truyền miệng tích cực hay tiêu cực Chuyển sang mua dịch vụ nơi khác. Các yếu tố quyết định trước khi mua dịch vụ: - Yếu tổ bên trong: + Nhu cầu và sở thích cá nhân + Kinh nghiệm quá khứ + Mong đợi cá nhân + Mức độ tham gia (khối lượng thời gian, sức lực, quan tâm và tình cảm mà khách hàng sử dụng trong quá trình mua dịch vụ) - Yeu tố bên ngoài gồm: + Chiến lược truyền thông + Chiến lược cạnh tranh + Lời truyền miệng + Hoàn cảnh xã hội 1. Những vấn đề chung về dịch vụ NHBL *Kít ái niệm dịch vụ NHBL Theo Philip Kotler thì dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất. Bản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ. Hoạt động của ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ về tiền tệ, về vốn, về thanh toán. cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế.
9 Trên thể giới, dịch vụ ngân hàng được hiểu theo nghĩa rộng, tức là toàn bộ các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,. mà ngân hàng cung cấp cho doanh nghiệp và công chúng. Ở Việt Nam, đến nay chưa có một văn bản pháp quy nào có nêu khái niệm dịch vụ ngân hàng một cách rõ ràng và tồn tại nhiều quan điểm. Văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động của ngân hàng như Luật các tổ chức tín dụng nêu: “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.” Như vậy có sự phân biệt giữa hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng.
Tuy nhiên theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì dịch vụ ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi và cho vay. Đứng trên góc độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thì có thể hiểu: sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính. Có quan điểm cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian tài chính (cho vay, huy động tiền gửi.), chỉ những hoạt động không thuộc nội dung trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng. Một số khác lại cho rằng các hoạt động sinh lời của Ngân hàng thương mại ngoài hoạt động cho vay thì được coi là hoạt động dịch vụ.
Quan điểm này phân định rõ hoạt động tín dụng - một hoạt động truyền thống và chủ yếu trong thời gian qua của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, với hoạt động dịch vụ - một hoạt động mới bắt đầu phát triển ở nước ta. Sự phân định như vậy trong xu thế hội nhập và mở cửa thị trường dịch vụ tài chính hiện nay cho phép ngân hàng thực thi chiến lược tập trung đa dạng hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. Một quan điểm phổ biến hơn thì cho rằng tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một Ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng.